Những Giáo huấn Thiền định về Tâm Giải Thoát Tự Nhiên, Đại Toàn Thiện (Longchenpa)

Những Giáo huấn Thiền định về Tâm Giải Thoát Tự Nhiên, Đại Toàn Thiện (Longchenpa)

PHẬT TÂM 
Một Hợp Tuyển Những Tác Phẩm của Longchen Rabjam về Đại Toàn Thiện 
Nguyên tác: BUDDHA MIND
An Anthology of Longchen Rabjam’s Writings on Dzogpa Chenpo
Tulku Thondup Rinpoche – Snow Lion, 1989
Việt Dịch: Đương Đạo – Nhà xuất bản Thiện Tri Thức, 2000

  1. Những Giáo huấn Thiền định 
    về Tâm Giải Thoát Tự Nhiên, Đại Toàn Thiện

Đây là một bản dịch trọn vẹn bản văn ngắn của Longchen Rabjam tựa đề Nghĩa Tinh Yếu – Những giáo huấn về những Giai Đoạn của Con Đường của Tâm Giải Thoát Tự Nhiên, Đại Toàn Thiện. Nó là một tóm gọn của Tâm Giải Thoát Tự Nhiên, sắp xếp những giáo lý thành những phần tu hành, bắt đầu từ những sơ bộ đến cấp độ cao nhất của thiền định Thregchod. Vì nó rất ngắn và cô đọng, nhiều chỗ khó hiểu. Dù nó giải thích phương tiện tu hành, thích hợp là đi vào thực hành này chỉ sau khi có đầy đủ những giáo huấn và những trao truyền riêng biệt từ một đạo sư rất thẩm quyền.

NGHĨA TINH YẾU – NHỮNG GIÁO HUẤN VỀ NHỮNG GIAI ĐOẠN CỦA CON ĐƯỜNG CỦA TÂM GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN, ĐẠI TOÀN THIỆN

Kính lễ Vajrasattva Vinh Quang,
Bản tánh Ngài từ vô thủy là vô sanh,
Không thể diễn tả, không thể quan niệm, bất nhị, Thân Tối Hậu,
Tâm Đại Bi, Phổ Hiền tự nhiên hiện tiền,
(Bậc là) sự Toàn Thiện tự nền tảng không có biến đổi : con kính lễ Ngài.
Những giáo lý cho những yogi vì sự chứng đắc của họ chắc chắn ngay trong đời này,
Những ban phước trực tiếp của các bậc Thánh,
Nghĩa tự-giải thoát của bất cứ cái gì sanh khởi mà không lấy hay bỏ,
Tôi sẽ viết ra để chỉ dạy ở đây.

Đức Phật giác ngộ viên mãn đã tuyên thuyết vô số những cổng vào của các thừa và những loại giáo lý với đại bi và phương tiện thiện xảo phù hợp với bản chất và trí năng của chúng sanh. Nghĩa của tất cả những giáo lý này bao gồm trong tánh giác bổn nhiên, tâm giác ngộ. Dù có nhiều giáo lý để thực hành về nó, có rất ít con đường (thực sự) đưa đến giải thoát trong chỉ một đời, bởi vì những con đường khác bị giới hạn trong những luyến chấp nắm bắt những cực đoan biên kiến. Giáo huấn về Tâm Giải Thoát Tự Nhiên của Đại Toàn Thiện là phương pháp bí mật nhất của sự chứng ngộ tức khắc những chấp nhận và chối bỏ là sự giải thoát ngay tại nền tảng của chúng. Giáo lý này vượt khỏi hết mọi thừa khác. Để học nó, có ba phần : (a) dòng các đạo sư, (b) giáo lý được truyền qua các vị ấy, và (c) mệnh lệnh giao phó giáo lý (cho những hộ pháp) vì sự quan trọng của nó.

Dòng những Đạo Sư

Giáo lý này được truyền qua :

  1. Samantabahadra (Phổ Hiền), Thân Tối Hậu của cảnh giới Phật không gì so sánh
    2. Amitabha (A Di Đà), Báo Thân
    3. Padmasambhava, Hóa thân
    4. Dakini Yeshey Tshogyal
    5. Guru Silamati
    6. Khedrub Geleg Gyatsho
    7. Choje Monlam Odzer
    8. Bản thân tôi (Longchen Rabjam)

Giáo lý được truyền qua các vị ấy

(i) Giáo lý thực hành để tự-giải thoát ngay trong đời này.

(A) NHỮNG SƠ BỘ

(1) HỢP NHẤT VỚI GURU DỂ NHẬN NHỮNG BAN PHƯỚC

Hãy ngồi trên một chỗ tiện lợi. Hãy quy y Tam Bảo và phát Bồ đề tâm. Bấy giờ hãy quán tưởng một cách tức thời : Trên đỉnh đầu là đại đạo sư Padmasambhava, không tách lìa với bổn sư của mình, ngồi trên một tọa cụ hoa sen, mặt trời và mặt trăng. Ngài mặc y phục Heruka, chói ngời với những tướng chánh và tướng phụ. Da ngài màu xanh. Ngài cầm một chày kim cương và chuông trong tay và ôm người phối ngẫu. Ngài trang sức bằng ngọc quý và xương. Trong lòng ngài là đức bà dòng họ Kharchen (tức Yeshey Tshogyal). Bà có nước da màu hơi đỏ. Bà cầm một lưỡi dao cong và một xương sọ và ôm người phối ngẫu. Hai vị được tất cả những đạo sư của dòng phái bao quanh và vô số chư Phật, Bồ tát, Daka, và Dakini. Trước các ngài, trong tâm mình : hãy lễ kính, cúng dường, sám hối tịnh hóa nghiệp xấu, tùy hỷ công đức, thỉnh cầu chư đạo sư chuyển bánh xe Pháp và cầu xin các vị ở lại không vào sự diệt tận của phiền não. Rồi cầu khẩn các ngài :

Guru quý báu ! (hiện thân của tất cả các bậc giác ngộ) Xin ban những phước lành cho con (và tất cả chúng sanh) để tịnh hóa những che chướng của thân, ngữ, tâm, của con đạt được những thành tựu của thân, ngữ, tâm (của những bậc giác ngộ) và có thể đạt đến Phật tánh ngay trong đời này.

Rồi suy nghĩ, “Ánh sáng phát ra từ thân của Guru (và của chúng hội). Chỉ do ánh sáng chạm đến mà những che chướng của thân ngữ tâm của tất cả chúng sanh được tịnh hóa và toàn thể vũ trụ được chuyển hóa vào trong bản tánh của Guru. Rồi ánh sáng phát ra từ thân, ngữ, tâm của tất cả (những đối tượng của sự sùng mộ) và đi vào đỉnh đầu mình, làm phát sanh trí huệ bổn nguyên của lạc, sáng tỏ và vô niệm, nó là sự chứng ngộ phi thường, sự tự-giải thoát tức thời.” Giữ hơi thở trong một lúc. Thực hành bằng cách kéo dài (dần dần) thiền định. Vào lúc kết thúc, hồi hướng những công đức bằng cách thấu hiểu trạng thái của sự xuất hiện như huyễn thuật. Nếu người ta tu hành như thế trong bảy ngày, những ban phước phi thường và những dấu hiệu thành tựu của Guru sẽ nhận được một cách thình lình.

(2) TU HANH CÚNG DƯỜNG MẠN DA LA DỂ HOAN THIỆN 
HAI DẠI TICH TẬP

Hãy quán tưởng chúng hội những Guru và những mạn đà la của những hóa thần bổn tôn trong bầu trời trước mặt mình. Sắp xếp những phẩm vật cúng dường Mạn Đà La. Suy nghĩ, “Tất cả thế giới và cả Phật mười phương được tượng trưng bởi hệ thống thế giới bốn châu và làm bằng đủ loại châu báu quý giá. Chúng đầy những vật thọ hưởng khác nhau của trời và người.” Rồi cúng dường chúng cho thánh chúng với thân thể, sự sung túc và công đức của chính mình, và nghĩ rằng tất cả chúng hội đều vui lòng. Hãy tiếp tục cúng dường Mạn Đà La trong bảy ngày. Mục đích của thực hiện hai sự tích tập công đức và trí huệ bổn nguyên là phát sanh sự chứng ngộ phi thường trong tâm mình.

(3) TU HÀNH THẦN CHÚ MỘT TRĂM ÂM ĐỂ TỊNH HÓA 
HAI CHE CHƯỚNG

Từ trạng thái (thiền định) tánh không, hãy quán tưởng tức khắc Vajrasattva màu trắng và một mặt. Ngài cầm chày kim cương và chuông. Ngài trang sức hồng ngọc quý và ngồi kiết già. Ở tim ngài, giữa một hoa sen và dĩa mặt trăng là một chữ HUM bao quanh bởi thần chú một trăm âm. Những tia sáng phát ra từ những chữ khắp mọi hướng và những che ám của tất cả chúng sanh được tịnh hóa (chỉ bằng chạm vào những ánh sáng). Trì tụng thần chú một trăm âm càng nhiều càng tốt trong bảy ngày. Mục đích của sự tu hành này là tịnh hóa những che chướng của nghiệp xấu và chứng ngộ bản tánh tối hậu một cách nhanh chóng.

(4) THỰC HÀNH VỀ VÔ THƯỜNG CỦA ĐỜI SỐNG ĐỂ ĐÍCH THỰC PHÁT SANH SỰ VƯỢT LÊN KHỎI SANH TỬ VÀ CHÁN SỢ NÓ

Hãy suy nghĩ, “Đời người có được những tự do và thuận lợi quý giá, nhưng bản chất của nó hẳn là vô thường và nhanh chóng hủy hoại. Những đối tượng xuất hiện bên ngoài là vô thường bởi vì chúng thay đổi với ngày, tháng, năm. Không có chúng sanh nào vượt khỏi cái chết.” Nghĩ về “cái chết xảy ra cho bà con và bạn bè của mình.” Hãy nghĩ về “sự chắc chắn của cái chết của chính mình vì cuộc sống là vô thường. Thân thể người ta đang tan rã và phân tán như một bong bóng nước đang vỡ, và không có gì chắc chắn là người ta không chết trong hôm nay.” Hãy nghĩ, “Hôm nay là ngày chót của ta ở trong thế giới này, bốn đại đang tan biến và tâm và thân đang tách rời.” Hãy thiền định về điều này từ tận đáy lòng trong bảy ngày. Mục tiêu của thiền định này là để khởi điểm (tỉnh giác về) vô thường trong tâm mình, giảm bớt những dự phóng của ý thức, và khiến người ta có thể đi vào và nỗ lực tu hành pháp.

(5) SỰ THỰC HANH QUY Y, NÓ KHỞI ĐẦU CON ĐƯỜNG TU HÀNH

Hãy quán tưởng Tam Bảo trong bầu trời trước mặt mình, như chư Phật của ba thời mười phương với chư Bồ Tát, những Mạn Đà La của những Hóa thần bổn tôn và những A La Hán và Bích Chi Phật. Với ý định nương dựa các ngài như những chỗ quy y cho đến khi người ta đạt đến giác ngộ, hãy tụng đọc những lời cầu nguyện quy y Guru và Thánh chúng. Khi làm thế, hãy nghĩ, “Khi các bậc cha mẹ thương yêu và tốt lòng với con cái của họ, những bậc để quy y đang nhìn chúng sanh với lòng bi mẫn.” Đọc những lời cầu nguyện quy y từ đáy lòng mình, nghĩ rằng, “Tất cả chúng sanh đang lập lại vang to lời quy y với tôi.” Hãy hiến mình cho sự thực hành này trong bảy ngày. Mục tiêu là để làm bình lặng những ngăn chướng của việc tu hành Pháp và khai triển chứng ngộ.

(6) SỰ THỰC HÀNH KHAI TRIỂN BỒ ĐỀ TÂM, NÓ LÀ SỰ TIẾN LÊN TRÊN CON ĐƯỜNG CỦA PHÁP

Hãy nghĩ đến những khổ đau của địa ngục nóng và lạnh, sự đói khát của cõi ngạ quỷ, sự nô dịch của cõi thú, sự chiến đấu của cõi Atula và cái chết rồi rớt xuống của cõi trời v.v…. ở trước mặt mình. Như thế, chúng sanh khổ đau trong mọi lúc, và bản chất của sanh tử không gì khác hơn là khổ đau. Thế nên hãy nghĩ, “Nguyện cho tất cả chúng sanh, họ đang tả tơi trong những đau khổ của sanh tử, nhờ những công đức, thân thể và sự sung túc của tôi…. được ở trong bốn kinh nghiệm vô lượng hưởng thụ hạnh phúc, thoát khỏi khổ đau (không lìa khỏi hạnh phúc và thoát khỏi khổ đau, và thản nhiên) không có thương ghét. Rốt ráo, nguyện họ đạt được trạng thái Phật tánh.” Khai triển Bồ đề tâm bằng lời nói với một lễ nghi đơn giản và tụng đọc :

Ôi các bậc giải thoát, với các đứa con của các ngài, xin hãy chú ý đến con.
Như chư Phật ba thời
Khai phát tâm Bồ đề,
Cũng thế vì lợi lạc của chúng sanh,
Con phát tâm Bồ đề trong chính thân tâm của con.
Trong những con đường của các ngài đã chỉ dạy (trong kinh điển),
Con tu hành thích hợp theo trình tự.
Nguyện con có thể hủy diệt những khổ đau của chúng sanh,
Và bất cứ điều gì con làm, nguyện nó làm cho lợi lạc của những người khác được đáp ứng.

Cũng thiền định về sự tu hành mang lấy những khổ đau của những người khác vào chính mình và đem hạnh phúc của chính mình cho họ. Hãy thiền định về lòng bi sâu sắc trong bảy ngày. Mục tiêu của nó là bất cứ cái gì người ta làm bằng thân xác hay lời nói đều chỉ vì lợi lạc của những người khác, và nhờ đó trở thành sự tu hành trong con đường Đại thừa.

(7) TU HÀNH TREN CON ĐƯỜNG THIẾT YẾU CỦA NGHĨA XÁC ĐỊNH ĐỂ PHÁT SANH SỰ CHỨNG NGỘ BẢN TÁNH TỐI HẬU

(A) TÌM KIẾM AN ĐỊNH

Hãy ngồi trong thế tréo chân. Tham thiền trong trạng thái mà trong đó những tư tưởng quá khứ đã dứt, những tư tưởng tương lai chưa sanh, và đối với hiện tại không có những ý niệm hóa trong bất kỳ giác quan nào. Tham thiền về cái này trong bảy ngày. Mục tiêu là trừ những tư tưởng xấu bình thường, những che chướng, và làm cho dễ nhận ra hơn bất cứ tư tưởng ngoại sanh nào khởi lên bằng cách phân biệt những phương diện của sáng tỏ và những bất tịnh trong tánh giác bổn nhiên.

(B) PHÁT SANH QUÁN CHIẾU

Vào lúc những tư tưởng đang phóng chiếu thô hơn trước, người ta cần phân tích chúng. Khi những tư tưởng phân tán, hãy tìm chúng khởi lên ở đâu. Hãy tìm kiếm thân thể từ đỉnh tới đáy và những hiện tượng bên trong, bên ngoài và ở giữa. Hãy tìm kiếm màu sắc, hình dạng, và bản sắc của những tư tưởng. Vì chúng không khởi sanh từ đâu, người ta chứng ngộ trạng thái của Tâm không sanh, giải thoát khỏi những gốc rễ. Khi một tư tưởng đang hiện diện, hãy phân tích màu sắc, hình dạng và bản sắc của nó là cái gì và nó ở trong, ở ngoài hay ở giữa. Người ta sẽ chứng ngộ sự sáng tỏ vĩ đại, không dứt và tánh Không của Tâm, sự hiện diện vĩ đại ở nền tảng. Những tư tưởng thình lình khởi lên và rồi biến mất đi đâu không dấu vết. Vào lúc dừng dứt (của những tư tưởng), bằng cách phân tích chúng đi đâu, người ta sẽ chứng ngộ nghĩa của tánh giác bổn nhiên, sự giải thoát trong trạng thái của bản thân nó, không có chút dấu vết gì, siêu vượt mọi nhận biết.

(C) NHẬN BIẾT HỢP NHẤT 
(CỦA AN ĐỊNH VÀ QUÁN CHIẾU)

Đã buông xả thân tâm một cách tự nhiên, hãy ở trong sự bình đẳng, bình an, sáng tỏ và tỉnh biết, trong trạng thái của tâm siêu vượt khỏi những tư tưởng và nhớ nghĩ. (Kết quả là), phương diện làm bình lặng chuyển động của những tư tưởng và nhớ nghĩ là “an định” và thấy nó rõ ràng và sống động là “quán chiếu”. Kinh nghiệm cả hai phương diện một cách đồng thời là “hợp nhất”. Mục tiêu của sự tu hành này là nhận biết định với phương tiện thiện xảo. Hãy tham thiền trong một ngày về mỗi thứ.

(ii) Con dường hiện thực, đưa vào sự chứng ngộ. Hãy để tâm và thân trong trạng thái buông xả hoàn toàn. Sự nhận biết xảy ra ngay điểm của tâm hiện diện khoảnh khắc. Tất cả thế giới và chúng sanh bên ngoài và bên trong là những cách thức sanh khởi của tâm của chính mình. Chúng như những giấc mộng. Bản thân cái tâm cũng trống không trong tinh túy của nó, sáng tỏ trong bản tánh của nó và sanh khởi sai khác trong tính cách của nó, như những xuất hiện của những hình sắc trong một tấm gương không dơ bẩn. Chúng tự do đối với mọi tạo tác thành những cực đoan có hiện hữu và không hiện hữu khi chúng xuất hiện, nhưng đồng thời chúng cũng tự do với sự có thể nhận biết. Thế có nghĩa là không có một bản tánh tối hậu nào khác tách biệt khỏi tâm hiện tại đang phóng chiếu trong nhiều hình thức khác nhau.

Đại Đạo Sư (Padmasambhava) nói :

Nếu người ta hiểu rằng tâm đích thật là bản tánh tối hậu,
Bấy giờ không có cảnh giới tối hậu nào khác để thiền định về nó.
(Chỉ) biết những phương pháp để chứng ngộ và giải thoát là đủ,
Vì tâm đích thực là Pháp thân (Thân Tối Hậu.)
Con đường toàn hảo này là độc nhất cao hơn (những con đường khác)
Đây là : Thừa phổ quát toàn khắp của Phổ Hiền.
Bất cứ ai thực hiện cái gọi là từ bỏ những tư tưởng, thiền định về không tư tưởng,
Và nhìn vũ trụ như những kẻ thù của sự giải thoát và như mê lầm, sẽ rơi (vào những cực đoan).

Thế nên hãy buông xả tự nhiên trong chính tâm hiện tại mà không có những cố gắng và đặt tên nào khởi sanh, hãy tham thiền trong nó (tâm hiện tại) bằng cách buông xả bình thường, như tâm vốn là, và trần trụi không có những lấy-bỏ. Ở trong tinh túy nó là sự giải thoát ngay trên sự thấy ; trong bản tánh nó giải thoát ngay trên sự thấu hiểu ; và trong tính cách nó là tự-giải thoát, đó là trạng thái tự nhiên của tâm. Bất cứ cái gì sanh khởi (trong tâm), hãy đối xử với nó mà không quá chú ý, bấy giờ tâm ở yên trong sự tự nhiên của tánh giác bổn nhiên và sự tự trọn vẹn hiện thành một cách tự nhiên. Vào lúc đó, không có ảnh hưởng của vướng mắc vào lấy hay bỏ, hãy an trụ trong trạng thái của tánh giác bổn nhiên bất biến, trí huệ bổn nguyên giải thoát tức thời, là sự hợp nhất của lạc, sáng tỏ và vô niệm. Khi không nắm bắt tâm hiện tại với những khẳng định “cái này là cái này”, bản thân tỉnh giác nội tại trở thành tự-giải thoát, và đồng thời nó tan biến. Khi tỉnh giác nội tại tan biến, hãy ở yên trong trạng thái không có những đặt tên gán ghép và những ô nhiễm cho đến khi sự tỉnh giác nội tại kế tiếp khởi sanh. Khi nó khởi sanh trở lại chớ có kéo dài sự tỉnh giác nội tại vô tri mà hãy ở yên trong nó một cách tự do, hộ trì nó một cách rỗng rang, và để cho nó vận hành mà không bám níu vào nó. Giống như lấy những vật từ một bình không đáy, hãy gặt hái kinh nghiệm trong cái tỉnh giác nội tại, nó là trong suốt, tức thời, tự-giải thoát, không ngăn ngại và không có tiêu điểm đối tượng nào của cái “cái này là cái này”. Tóm tắt, khi cái thấy và thiền định của sự giải thoát-ngay khi-khởi sanh xảy ra (theo cách) tự-khởi sanh và vỡ toang từ chiều sâu, cả hai thứ đối tượng để đoạn trừ và những đối trị được giải thoát qua sự tự-tan biến. Bấy giờ, vì tất cả hiện tượng hiện hữu khởi lên như là bản tánh tối hậu, sự thiền định không có cách hở, ngừng nghỉ. Khi tánh giác bổn nhiên và tánh không tự-giải thoát không có nắm bắt, những nhiễm ô được tịnh hóa như là trí huệ bổn nguyên. Khi những đức hạnh hiện diện như là sự toàn thiện tự nhiên, người ta siêu vượt những cố gắng và những thành tựu. Khi tất cả khởi lên như là bản tánh, nó là sự chứng đắc bản tánh tối hậu, thanh tịnh khỏi mọi lỗi lầm và che chướng. Bởi thế, tất cả những tư tưởng và nhớ nghĩ bình thường hiện tại là trạng thái tự tánh của Thân Tối Hậu. Đại Đạo Sư (Padmasambhava) nói :

Trong tâm thoát khỏi những ý niệm :
Hãy ở yên trong tánh bình đẳng không có thiền định.
Dù (con) thiền định, hãy ở yên tự nhiên không có bác bỏ.
Hãy ở yên trong cái khoảnh khắc không có dao động,
Dù (con) dao động, hãy ở yên tự do không bác bỏ.
Hãy ở yên trong đình chỉ, không có quan sát.
Dù (con) quan sát, hãy ở yên trống trơn không có bác bỏ.
Hãy ở yên trong bản năng nguyên sơ, không có phóng chiếu.
Dù (con) phóng chiếu, hãy ở yên “tại đây” không có bác bỏ.
Hãy ở yên trong rạch ròi không có rút lui.
Dù (con) rút lui, hãy ở yên rõ ràng trong sáng không có bác bỏ.
Hãy ở yên trong rỗng rang không có những nỗ lực.
Dù (con) nỗ lực, hãy ở yên kềm giữ không có bác bỏ.
Hãy ở yên trong sáng sủa không có những sửa sang chỉnh trị.
Dù (con) sửa sang chỉnh trị, hãy ở yên một cách thanh tịnh không có bác bỏ.
Hãy ở yên trong không cố gắng không có chỗ được.
Dù (con) được, hãy ở yên tự nhiên không có bác bỏ.
Hãy ở yên trong tánh tự nhiên không có từ chối.
Dù (con) từ chối, hãy ở yên cái không sanh mà không có bác bỏ.
Hãy ở yên trong cảnh giác không có giới hạn.
Dù (con) bị giới hạn, hãy ở yên tự nhiên không có bác bỏ
Hãy ở yên trong buông xả không có những cố gắng.
Dù (con) cố gắng, hãy ở yên tự nhiên không có bác bỏ,
Hãy ở yên trong không có-căn cứ mà không có tham thiền.
Dù (con) tham thiền, hãy ở yên tự nhiên không có bác bỏ.

Tâm hiện tại được giải phóng tự do vào trạng thái của tánh tự nhiên, sự toàn thiện tự nhiên không sửa sang chỉnh trị của bất cứ cái gì sanh khởi, không có sự bám luyến đối với những hiện tượng bên ngoài và bên trong. (Trong tâm hiện tại), vì không có những tư tưởng từ chối hay chấp nhận, trạng thái của bất nhị của tâm tồn tại không dừng dứt. Vì không có những tư tưởng thô, tâm lang thang hoang dã được giải thoát khỏi những tư tưởng của cõi dục. Vì những tư tưởng phóng chiếu sanh khởi trong tánh tự nhiên, tâm siêu vượt khỏi mọi trệch hướng về những cõi sắc và vô sắc. Không có sự nắm bắt như là “cái này”, an định được thành tựu tự nhiên. Vì tánh tự nhiên (của tâm) hiện khởi một cách tự phát, quán chiếu được thành tựu tự nhiên. Vì không có phóng chiếu và trụ định tách lìa, sự hợp nhất của chúng được thành tựu tự nhiên. Vì nó được giải thoát trong bản thân trạng thái tức thời khoảnh khắc (hay một cách tức thời trong trạng thái của chính nó), trí huệ được thành tựu một cách tự nhiên. Vì không có trụ, định được thành tựu một cách tự nhiên. Vì không có sự nắm hiểu cái giải thoát-ngay trên-sanh khởi, trí huệ bổn nguyên được thành tựu một cách tự nhiên. Vì mọi lỗi lầm đều hiện diện qua việc nắm bắt, chúng được giải thoát trong tự do khỏi sự nắm bắt và những chướng ngại. Vì tất cả đức hạnh khởi lên trong trí huệ tánh giác, chúng tiến bộ không ngừng. Đó là tâm được hoàn thiện trong tánh tự nhiên của chính nó, và đó là sự đạt được thành tựu tối thượng về Đại Ấn (Mahamudra), ngay trong đời này.

Hãy ở yên trong tánh giác không do tạo tác, tự nhiên và không ngăn ngại,
Trạng thái của bất cứ cái gì sanh khởi, qua cái tự-sanh khởi vĩ đại (sự chứng ngộ)
Vị vua không có chỗ nương dựa toại nguyện với sự không có những nắm bắt.
Và đạt được Thân Tối Hậu vô sanh, trạng thái thường trụ.

(iii) Kết luận.

(a) NHŨNG THỤC TẬP THIỀN ĐỊNH

Trong những thời kỳ xuất thiền định – lúc tu hành tham thiền thực sự, tánh tự nhiên của tâm hiện tại của bất cứ cái gì sanh khởi – hãy tu hành một cách rõ ràng sức mạnh của những thực tập (thấy rằng) tất cả những hình tướng bên ngoài và tỉnh giác bên trong, cũng như những kinh nghiệm tu tập, đều không hiện hữu ngay từ điểm sanh khởi của chúng, như một giấc mộng, huyễn thuật, ảo ảnh, mặt trăng trong nước, và sự xuất hiện không thực. Những thực tập này giải thoát sự luyến bám vào mọi hiện hữu cho là thật có. Dù trong giấc ngủ, người ta an trụ trong Pháp thân, sự dứt bặt mọi nắm bắt, tìm hiểu.

(b) XUA TAN NHỮNG CHE ÁM, NHƯ LÀ BỆNH TẬT VÀ 
NHỮNG TÁC ĐỘNG GÂY HẠI

Bệnh tật và những tác động gây hại là những biểu lộ của những tư tưởng, nếu được khảo sát, chắc chắn rằng chúng không hiện hữu ở đâu cả, bên ngoài, bên trong hay chặng giữa. Thế nên với một thái độ vui vẻ bởi vì nhờ (cơ hội) chuyển những chướng ngại che ám thành phương tiện thực hành trên con đường của cái không sanh, hãy thiền định (bằng cách suy nghĩ và quán tưởng) : về sự xuyên thấu vào và làm nhẹ những đau đớn của bệnh, và về sức mạnh của những thực tập lòng bi và của sự thấu hiểu sự không hiện hữu trong chính thật tánh của những chướng ngại gây hại. Chắc chắn sẽ làm bình lặng chúng.

(c) TIẾN BỘ TRONG NHỮNG THỰC TẬP

Nếu sự tu hành đức hạnh trở nên chậm chạp, hay nếu không có tiến bộ, hãy mạnh mẽ cầu nguyện đến Guru, phát sinh sự vượt lên khỏi và ghê sợ (sanh tử) trong tâm, hãy tích tập công đức bằng những lễ tiệc cúng dường (Tshog) và thiền định về từ, bi và Bồ đề tâm. Hãy đi đến một nơi hoàn toàn hoang vắng như một nghĩa địa, một thung lũng, hay những đỉnh núi. Hãy quán tưởng Guru trên đỉnh đầu, và chạy, nhảy (vòng quanh một cách tự nhiên), kêu to những lời nói (bất cứ lời nào xảy đến), và phóng chiếu trong tâm thức những kinh nghiệm sướng khổ và lấy bỏ. Rồi kết hợp những kinh nghiệm ấy một cách tự nhiên với sự tự-giải thoát tức thời. Tu hành như thế nhiều ngày làm sản sinh ra nhiều chứng ngộ phi thường khác nhau. Đây là những điểm rất cốt yếu của sự tu hành.

Một hành giả đã có được những kinh nghiệm như vậy đạt được xác tín tự tin không sợ chết và giải thoát người nắm bắt và cái được nắm bắt trong trạng thái tự nhiên của chúng. Nó chứng ngộ một cách trực tiếp những thành tựu chung và không chung ngay trong đời này. Đây là một cô đọng ngắn vì giải thích sự tu hành này trong chi tiết thì không cùng. Những giáo lý cho sự đạt giải thoát ngay trong đời này đã trọn vẹn.

Chỉ dạy về Sáng Tỏ, Căn cứ Sanh Khởi của Trạng Thái Trung Ấm

Nhờ những kinh nghiệm trong những điểm cốt yếu về giải thoát tức thời của sanh và chết (qua thiền định) trong quá khứ, cũng như vào lúc trạng thái giấc mộng trung ấm (rMi-Lam Bar-do), trạng thái tự nhiên của giải thoát bổn nguyên, vốn thoát khỏi những nắm bắt, hiện khởi. Vào lúc chết, do làm tan biến (hay chuyển di sự tập chú của năng lực của) đất (nguyên tố của thân) vào nước, thiền giả mất đi năng lực thể xác, do làm tan biến nước vào trong lửa, thủy đại khô đi, bằng cách làm tan biến lửa vào trong không khí, hơi nóng rút khỏi những chu vi bên ngoài, và bằng cách làm tan biến không khí vào trong thức, thiền giả ngừng thở. Bằng cách làm tan biến (hay chuyển di sự tập chú năng lực của) hình sắc vào trong âm thanh, nó sẽ không thấy những hình sắc bằng mắt mình, bằng cách làm tan biến âm thanh vào hương nó sẽ không nghe âm thanh nào nữa, bằng cách làm tan biến hương vào vị nó sẽ không cảm thấy hương với mũi, bằng cách làm tan biến vị vào trong xúc nó sẽ không cảm thấy vị với lưỡi, bằng cách làm tan biến xúc vào những hiện tượng nó sẽ không cảm thấy xúc chạm, và bằng cách làm tan biến những hiện tượng vào tâm thì những tư tưởng thô chủ thể và đối tượng ngừng dứt. Điều này tương tự với trở nên vô ý thức. Đó là sự hòa tan của tám thức vào nền tảng phổ quát. Ngay vào thời điểm tham thiền trong định, người ta giải thoát mình như là những thành phần của năm gia đình (bộ) Phật và đạt đến trạng thái bổn nguyên. Nó là trạng thái có đầy đủ năm gia đình Phật và sự toàn thiện.

Ngay vào lúc tham thiền một cách tự nhiên và không có điểm tựa vào ánh sáng xanh như là Trí Huệ Bổn Nguyên của cảnh giới Tối Hậu, người ấy giải thoát tự-tỉnh giác của nó như là thân của Phật Vairocana (Tỳ Lô Giá Na). Cũng thế, sự tham thiền về ánh sáng trắng như là Trí Huệ Bổn Nguyên Giống Như Tấm Gương giải thoát nó như là Aksobhya (A Súc), ánh sáng vàng như là Trí Huệ Bổn Nguyên Bình Đẳng giải thoát nó như là Ratmasambhava (Bảo Sanh), ánh sáng đỏ như là Trí Huệ Bổn Nguyên Phân Biệt giải thoát nó như là Amitabha (A Di Đà), và ánh sáng lục như là Trí Huệ Bổn Nguyên của sự Thành Tựu giải thoát nó như là Phật Amoghasddhi (Bất Không Thành Tựu). Rồi qua thân biểu lộ người ấy phụng sự chúng sanh. Đây là sự đạt được giác ngộ hoàn toàn tại nền tảng bổn nguyên. Đây là (phương pháp của) sự giải thoát tức thời bằng cách hợp nhất (trí huệ bổn nguyên) với sự sáng tỏ (hiểu là tịnh quang – bản dịch Việt) của trạng thái trung ấm khi nhận biết trí huệ bổn nguyên của lạc, sáng tỏ và vô niệm tự nhiên hiện diện và không phải tìm kiếm, nó tự nhiên khởi lên và tự nhiên được nhận biết khi người ta đã có những kinh nghiệm trong điểm cốt yếu tự-giải thoát tức thời này trong quá khứ. Vì tinh túy của tánh giác bổn nhiên là Tánh Không, nó không trụ ở đâu cả. Vì bản tánh của tánh giác bổn nhiên là sáng tỏ, căn cứ khởi lên là không ngừng. Vì tính cách của tánh giác bổn nhiên là sai khác, nó hiện diện trong trạng thái tất cả-đồng khởi, tự do khỏi những phân biệt. Những cái này (được gọi là) ba tính chất phú bẩm (của tánh giác bổn nhiên). Bấy giờ bốn thị kiến riêng biệt của sự tan biến của bốn đại xuất hiện và chúng là bốn tính chất phú bẩm. Bấy giờ người ta đã đạt giải thoát như năm thân (của năm gia đình Phật) bằng cách chứng ngộ sự sáng tỏ như là những trí huệ bổn nguyên. Chúng là năm tính chất phú bẩm (của tánh giác bổn nhiên). Bấy giờ người ta làm lợi lạc cho chúng sanh qua những biểu lộ. Nó là sự phú bẩm của hoàn thiện toàn triệt. Bấy giờ bằng cách làm tan biến Báo Thân vào Thân Tối Hậu và bảo đảm trạng thái bất biến của bản tánh tối hậu, người ta ở trong sự hoàn thiện đại bình đẳng. Nó là sự phú bẩm của đại hoàn thiện toàn triệt. Đó là giáo huấn về sự giải thoát trong trạng thái trung ấm cho những hành giả (trí năng) bình thường.

Những Giáo Huấn Phụ Thêm về sự Tiếp Tục Tiến Trình Nghiệp trong Trạng Thái Trung Ấm của Hiện Hữu (Srid-Pa Bardo)

Nếu người ta không thể nhận ra hay duy trì sự sáng tỏ vào lúc chết, bấy giờ người ta sẽ lấy một thân (vi tế hay) thân bằng thức, thân ấy xuất hiện trong nửa đầu của thời kỳ đời sống trong trạng thái trung ấm trong hình dạng của lần sanh trước và nửa sau trong hình dạng của lần sanh tới. Thân này có đủ mọi khả năng giác quan, và nó đi đến bất kỳ nơi đâu (trong sanh tử) bằng ý nghĩ do bởi nghiệp lực của nó. Người có thân đó đi qua không ngăn ngại tất cả mọi sự vật chỉ trừ bụng người mẹ của nó và tòa Kim Cương (Trạng Thái Giác Ngộ). Nó trải qua nhiều kinh nghiệm hạnh phúc và khổ đau như những hình tướng xuất hiện trong một giấc mộng. Sự kéo dài của sự việc này là không xác định. Một số người tái sanh nhanh hơn trong khi những người khác phải ở trong 49 ngày. Khi họ biết rằng họ đã chết, họ kinh nghiệm sự buồn rầu. Vào thời gian đó, nếu họ nhớ lại những giáo huấn đã nhận được trước kia và tu hành sự không nắm bắt vĩ đại những hình tướng và tâm, và nếu họ cầu nguyện Guru, bấy giờ có những người tu hành trong số họ đạt được giải thoát. Trong tình hình này, cũng rất quan trọng là tâm cần nhớ nghĩ đến các cõi tịnh độ, thấu hiểu rằng những tri giác trong trạng thái trung ấm là không thật, và nhớ lại sự sùng mộ và kính ngưỡng (với các bậc giác ngộ). Có nói (trong kinh điển) rằng những người tu hành như vậy sẽ tái sanh trong những cõi tịnh độ và đạt giác ngộ ở đó.

Cách tốt nhất (tu hành chuyển trạng thái trung ấm thành phương tiện cho những chứng đắc cao hơn) là sự thấu hiểu rằng những hiện tượng là không thực sự hiện hữu. Cách tốt thứ hai là tri giác những hình tướng như là giai đoạn phát triển, giai đoạn thành tựu, và những tịnh độ giống như một huyễn thuật. Cách tốt ít nhất là tu hành niêm kín những cánh cổng của những tử cung của các cõi thấp. Để đóng kín những cánh cửa của tái sanh người ta cần nhận biết những hình ảnh tượng trưng của chúng. Cánh cửa tái sanh của cõi thiên xuất hiện như một khu vườn hay một lâu đài, của cõi bán thiên như một bánh xe ánh sáng, của cõi người như một cái nhà, hoặc là một nhà để vui chơi hay đầy người, của cõi thú như một cái hang hay một túp lều, của cõi quỷ đói như một khe núi khô, một cái hang hay một chỗ dơ bẩn, và của cõi địa ngục như bóng tối và một cơn mưa giông và v.v…. Vào lúc đó, chớ bị hấp dẫn bởi bất kỳ cánh cửa tái sanh nào như vậy. Hãy tri giác một cánh cửa tái sanh đặc biệt, hoặc của cõi trời hay cõi người, như là một lâu đài cõi trời và trong đó quán tưởng một chữ “HUM” rồi đưa thức đi vào chữ. Nghĩ rằng “Ta sẽ gặp Pháp và đạt thành tựu tối thượng trong đời tới”, hãy quán tưởng mình là vị thần bổn tôn. Bằng phương pháp này người ta tái sanh trong một đời sống quý báu của con người hay của chư thiên, có những phẩm tính tự do và thuận lợi, người ta gặp những bạn thánh hạnh, như là những vị thầy tâm linh và đạt sự thành tựu tối thượng trong đời đó. Giáo huấn về trạng thái trung ấm đã trọn vẹn.

Những Giáo huấn về Kết Quả, sự Toàn Thiện

Dù người ta đạt giải thoát trong đời này, trong trạng thái trung ấm hay trong đời tới, kết quả nhất định là Phật quả không gì sánh. Bằng cách làm cho tâm mình trở nên hoàn toàn thanh tịnh bởi được tự giải thoát, và bằng cách chứng ngộ nghĩa của sự sáng tỏ (tịnh quang) một cách trực tiếp, người ta sẽ bảo đảm sự an trụ trong trạng thái của Thân Tối Hậu vô nhiễm. Vào lúc đó, như mặt trời và mặt trăng mọc lên trong bầu trời, từ trong trạng thái của Thân Tối Hậu Báo thân xuất hiện cùng với năm điều chắc thực và phụng sựï chúng sanh ở trong mười địa. Qua nhiều hình thức khác nhau của Hóa thân, người ta hoàn thành những lợi lạc của nhiều chúng sanh một cách tự nhiên. Đặc biệt, (a) nếu người ta chứng ngộ những tự-xuất hiện của trạng thái trung ấm là sự sáng tỏ của nền tảng, người ta bảo đảm trạng thái của Thân Tối Hậu. Bấy giờ, từ trạng thái đó, những lợi lạc cho chúng sanh xảy ra qua những Báo thân và những Hóa thân. (b) Nếu người ta chứng ngộ những tự-xuất hiện như là những xuất hiện của trí huệ bổn nguyên có năm khía cạnh, người ta bảo đảm trạng thái của Báo thân và đáp ứng lợi ích của chúng sanh bằng những Hóa thân. Và rồi những Hóa thân tan biến vào trong những Báo thân, chúng lại tan biến vào trong Thân Tối Hậu, và ở đó người ta ở trong nền tảng bổn nguyên. Rồi lại từ trạng thái bổn nguyên này, người ta phụng sự chúng sanh qua những xuất hiện của hai Sắc thân. (c) Nếu người ta chứng ngộ tự-xuất hiện như là những thân thanh tịnh và cõi Phật thanh tịnh của những Hóa thân, người ta bảo đảm trạng thái của Hóa thân và những xuất hiện của những Báo thân và Hóa thân tan biến vào trong Thân Tối Hậu, và từ nó người ta hoàn thành những lợi lạc của chúng sanh (qua hai sắc thân).

Trong chính tỉnh giác bổn nhiên hiện tại này, cả sanh tử và niết bàn được thành tựu. Thế nên, nếu người ta không thể chứng ngộ nó, nhiều loại hạnh phúc và đau khổ khác nhau khởi sanh trong những hình tướng xuất hiện như mộng của sanh tử trong giấc ngủ vô minh, và người ta lang thang trong ba cõi và sáu loại chúng sanh. Nếu người ta có được những kinh nghiệm của chứng ngộ, thì những thị kiến của niết bàn như mộng xuất hiện như những cõi tịnh độ khác nhau của Báo thân và họ phụng sự chúng sanh trong những giấc mộng. Bất cứ màu sắc nào xuất hiện, ngay khoảnh khắc xuất hiện của chúng, (bằng cách nhận biết rằng chúng) không hiện hữu trong thực tế, chúng biến mất như những giấc mộng biến mất khi người ta tỉnh dậy và rồi chúng trở thành một vị trong Thân Tối Hậu, thoát khỏi mọi tạo tác, như những hình tướng xuất hiện của ban ngày.

Thế nên, nếu người ta không chứng ngộ tánh Không, tinh túy của tỉnh giác bổn nguyên hiện tiền, bấy giờ vì vô minh, người ta trở nên mê lầm vào tâm và cõi vô sắc. Những cái này thuộc về bản tánh vô niệm. (Cũng thế, nếu người ta không chứng ngộ) sự sáng tỏ (quang minh), bản tánh (của tỉnh giác bổn nhiên hiện tiền), bấy giờ bởi vì sân giận người ta trở nên mê lầm vào trong ngữ và cõi sắc. Những cái này thuộc về bản tánh sáng tỏ. Nếu người ta không chứng ngộ những đặc thù đa dạng, tính cách (của tỉnh giác bổn nhiên hiện tiền), bởi vì tham người ta trở nên mê lầm vào thân thể và cõi dục. Những cái này thuộc về bản tánh lạc.

Kết quả là, từ những hành động bất thiện người ta sẽ chịu khổ trong những cõi địa ngục, từ những hành động thiện nhiễm ô không liên hệ với những tham thiền (người ta sẽ chịu khổ) trong sự lưu lạc của người và chư thiên, từ sự sáng tỏ của tham thiền người ta sẽ chịu khổ trong những cõi sắc và từ việc ở yên trong những tham thiền vững chắc (người ta sẽ chịu khổ) trong cõi vô sắc.

Khi người ta thấy và chứng ngộ tánh giác hiện tiền, bấy giờ tinh túy tánh Không của nó là Thân Tối Hậu thoát khỏi những tạo tác, bản tánh sáng tỏ của nó là Báo thân với năm điều chắc thật và tính cách của nó, xuất hiện trong nhiều hình thức khác nhau, là Hóa thân xuất hiện một cách thích ứng để thành tựu lợi lạc của chúng sanh một cách tự nhiên. Thân Tối Hậu là sự tự do khỏi mọi tạo tác, như hư không, và từ trạng thái đó xuất hiện “cõi Phật không gì sánh” của Báo thân, với những đạo sư của chư Phật An Bình và Hung Nộ của Báo thân trang nghiêm bằng những tướng chánh và tướng phụ. Những vị đạo sư ấy làm hài lòng vô tận chư Phật tự-xuất hiện và chư Bồ tát thập địa với những giáo lý Đại thừa cho đến khi sanh tử trống trơn. Từ trạng thái ấy (Báo thân), qua vô số Hóa thân của thân, ngữ, tâm bất tận với (hai) trí huệ thấu biết chân lý tuyệt đối và những đa thù quy ước, người ta thực hiện những hành động giác ngộ cho chúng sanh trong tất cả sáu loại khắp mười phương, phù hợp với những tri giác khác biệt của họ. Đây là lòng đại bi của vô lượng hành động giác ngộ.

Trong phương diện của biểu lộ trí huệ bổn nguyên của chư Phật có hai phạm trù : năm cái vĩ đại của Báo thân, chúng là tinh túy xuất hiện bên trong ; và hai cái vĩ đại của Hóa thân, chúng là những hình thức xuất hiện bên ngoài. Năm trí huệ bổn nguyên bên trong là : những trí huệ bổn nguyên của cảnh giới tối hậu, như tấm gương, bình đẳng, phân biệt và thành tựu. Hai trí huệ bổn nguyên bên ngoài là : trí huệ bổn nguyên biết mọi chi tiết của những hiện tượng quy ước một cách riêng biệt không lầm lẫn chúng, và trí huệ bổn nguyên biết bản tánh tối hậu một vị như nó là. Sự giải thích những giai đoạn hiện khởi của kết quả, sự hoàn thiện của con đường, đã trọn vẹn.

Con đường tuyệt hảo và cỗ xe vĩ đại của chúng sanh phước đức :
Trí Huệ Bổn Nguyên vốn sẵn đủ bất nhị tự giải thoát
Là tâm tự-giải thoát, hiện tại khoảnh khắc.
Nó giải thoát đồng thời ngay-khi-khởi sanh và giải thoát tự nhiên không trước hơn hay sau hơn.
Nó không ô nhiễm do bị nắm bắt và không dơ bẩn bởi người nắm bắt.
Nó là sự khởi sanh của tất cả những nhiễm ô phiền não như là chính trí huệ bổn nguyên.
Vì (giáo lý này) được trao truyền cho tôi nhờ hồng ân của Guru,
Cho những người học đạo tương lai, tôi đã gom chúng lại như những giáo huấn viết ra.
Người muốn giải thoát khỏi cuộc sanh tử này cần nương dựa vào đây.
Bất luận thế nào, người nào tạo ra từ chối và chấp nhận
Không có cơ hội tốt cho những giáo lý bất nhị,
Trên con đường này, vì tất cả kinh nghiệm chính là trí huệ đích thật,
Người ta đạt được trạng thái vĩnh cửu của Thân Tối Hậu, cái toàn thiện tại ngay nền tảng.
Hỡi các bạn ! Trong tòa lâu đài tinh chất này thoát khỏi những cực biên,
Hãy sở hữu sự giàu sang của Tâm Tối Hậu.
Chắc chắn rằng người ta sẽ đạt được kết quả đại phúc lạc trong chỉ đời này.
Và sau đó, những lợi lạc của những người khác sẽ được thành tựu tự nhiên.
Cuộc đời chúng ta đổi thay như những đám mây,
Thân thể thì không có tự tánh như bọt nổi.
Khó nghe được những giáo lý và càng khó hơn là thực hành điều người ta đã nghe.
Thế nên hãy nhanh chóng phát sanh năng lực tinh tấn.
Do làm chín những quả và hoa của những nỗ lực đức hạnh đúng thời,
Nguyện tất cả chúng sanh đạt được trạng thái của Phật.
Ở Kangri Thodkar (Núi Tuyết Đỉnh Trắng), thành Ogyen (Oddiyana, tức Pamasambhava),
Bản văn này được viết bởi Trimed Odzer (Ánh Sáng Rực Rỡ Vô Nhiễm, tức Longchen Rabjam).
Do những công đức, nguyện cả ba cõi không sót một ai
Đều thành tựu trạng thái của Trọn Hảo (tức là Phổ Hiền).

Giáo huấn nghĩa tinh yếu của con đường của những giai đoạn của Tâm Giải Thoát Tự Nhiên của Đại Toàn Thiện, được viết ra bởi Longchen Rabjam (Pháp Giới Bao La Vô Tận), đã trọn vẹn.

Mệnh Lệnh giao Phó Giáo Lý vì sự Quan Trọng của Nó

Vì giáo lý này là một tinh chất của những giáo huấn bí mật nhất, nếu nó được dạy cho hơn ba người phước đức, điều đó sẽ đem lại những trừng phạt của những Dakini. Thế nên hãy giữ nó một cách nghiêm nhặt (bí mật). Hỡi hộ pháp vinh quang Legden Nagpo, hộ pháp nữ cho những tantra Ekajati và Rahula, hiền triết của (đẳng cấp) Za, xin hãy bảo vệ giáo lý này một cách nghiêm nhặt. Nguyện nó được là đức hạnh !