Những Lối Vào Thực Tại Tối Hậu – Phật quả không thiền định

Những Lối Vào Thực Tại Tối Hậu – Phật quả không thiền định


MỤC LỤC

Những Lối Vào Thực Tại Tối Hậu

Buddhahood Without Med itation

Dudjom Lingpa

Chỉ Dạy Để Làm Hiển Lộ Rõ Ràng Khuôn Mặt

Xưa Nay Như Là Đại Toàn Thiện

Cũng Tức Là Bản Tánh Cố Hữu

Richard Barron dịch từ tiếng Tạng dưới sự hướng dẫn của Chagdud Tulku Rinpoche

Nguyễn An Cư Việt dịch

NHX. Thiện Tri Thức 2004

Giới Thiệu

Chagdud Tulku

Pháp thân ,

Thực thể bao la của sự thanh tịnh ;

Nguyên sơ và không có thời gian .

Báo thân ,

Thực thể toàn bộ bao la phô diễn không dừng dứt ;

Của những bổn tôn hòa bình và hung nộ .

Hóa thân ,

Thực thể bao la điều phục chúng sinh theo cách cần thiết .

Con lễ lạy với lòng sùng mộ Dudjom Lingpa ,

Bậc điều phục cho chúng sinh .

Hỡi đấng bảo vệ ;

Dù những phẩm tính của ngài không thể diễn tả một cách đầy đủ .

Nên con chỉ viết ngắn gọn gương mẫu đời ngài ;

Để mở cửa cho những người trong chúng con .

Tuy tâm trí nhỏ nhưng với lòng tin tuyệt đối ,

Quyết đi vào sự sáng rỡ của lời ngài tuyệt diệu ;

Cam lồ của lời khuyên tâm linh sâu xa .

Những bổn tôn và những vị thầy ,

Xin ban

phước lành cho nhiệm vụ của con! .

Trong quá khứ lâu xa , để đem đến lợi lạc cho giáo lý và chúng sanh . Vị thầy Pháp thân vĩ đại Vajradhara biểu hiện trong tri giác của những người cần được điều phục . Với hình thức vị vua của những thiền giả tên là Nũdan Dorje . Vị thiền giả thần lực ban quán đảnh như vị trị vì tâm linh của ba cõi và đã cầu nguyện với ý nguyện lớn lao để làm lợi lạc cho chúng sinh , ban quán đảnh cho một ngàn vị Phật tương lai của kiếp này .

Ngài cầu nguyện :

“Đến khi những giáo lý của một ngàn vị Phật trong kiếp may mắn này chấm dứt .

Nguyện những Hóa thân lưu xuất của tôi sẽ xuất hiện không ngừng .

Để hoàn thành lợi lạc bao la cho những chúng sinh cần được điều phục! ” .

Thần lực của lời nguyện này khiến hàng trăm hóa thân lưu xuất làm lợi lạc cho chúng sinh bất cứ nơi nào hoàn cảnh đúng hợp . Trong những hóa thân lưu xuất đó có Thanh Văn Xá Lợi Phất trong thời của đạo sư của chúng ta là Phật Thích Ca Mâu Ni , tiếp theo là bậc nắm giữ tánh giác vốn sẵn Hungchhenkara . Dịch giả Drogban Khye’uchung Lotsa , Dampa Desheg – Người sáng lập tu viện Kat’hog , Kharnagpa của thị tộc Grum và Hepa Chhõjung cũng như Dudjom Dorje , Duddul Rolpatzal và nhiều thân lưu xuất khác bảo đảm cho hạnh phúc của chúng sinh .
Đặc biệt là đạo sư Padmakara , hiểu biết của ngài bao trùm ba thời đã thúc giục một hóa thân xuất hiện như sứ giả của ngài . Bậc bảo vệ cho chúng sinh trong thời đại tâm linh suy đồi . Theo lệnh của ngài , Dudjom Lingpa thành thai giữa những dấu hiệu kỳ diệu trong lòng một phụ nữ thị tộc họ Nub .
Bà mẹ ngài cảm thấy hạnh phúc về thể chất và tinh thần trong thời kỳ mang thai ; và có những điềm tốt khi ngài được sinh ra không khó khăn trong một lều nhỏ . Toàn bộ chỗ ấy được phủ đầy những cầu vồng và điểm ánh sáng . Những mùi hương lạ tỏa ra và một cơn mưa hoa rơi xuống .
Năm 1835, năm con cừu . Ngày mồng mười tháng giêng , lễ kỷ niệm sự phô bày những phép lạ của đức Phật . Thân tướng của ngài với những tướng chính và phụ ra đời . Mọi người quanh vùng nói rằng : Một hiện thân đã được sinh ra. Nhiều bậc thánh như Lama Jigmed ca tụng em bé như một hóa thân cao cả không gì sánh và tiên tri em bé đó sẽ hoàn thành những việc lớn lao cho người khác .
Trong ba năm đầu của đời mình . Ngài thấy những chúng hội Dakini và những thần bảo hộ giữ gìn trông coi ngài ca hát , nhảy múa và chơi nhạc . Ngài cũng thấy nhiều trận đánh của những quân ma gây trở ngại cho những thần có nhiệm vụ bảo vệ ngài . Những người khác đôi khi cũng thấy và nghe được điều đã xảy ra .
Về sau , Dudjom Lingpa kể lại một điều xảy ra lúc ngài ba tuổi : “ Tôi thấy mẹ tôi sửa soạn đi ra ngoài để nhặt những loại củ ăn được . Cho nên bà cột tôi vào sợi dây cột lều và bỏ lại . Tôi bắt đầu khóc và muốn ngất đi . Lúc ấy một Dakini màu trắng xuất hiện và nói với tôi : Chúng ta hãy đi tới mẹ . Với câu nói đó , tôi thấy đầy đủ thực thể của một cõi tịnh độ tỏa ánh sáng màu ngọc bích trong nhiều hệ thế giới ở phương bắc . Trung tâm của cõi này là một vị Phật – Bậc điều ngự thành tựu và siêu việt có danh hiệu là Don Mizawai Gyalpo ( Vua Không Ngần Ngại ) với vô số bồ tát bao quanh . Tôi lễ lạy các vị với lòng sùng mộ và nói :

Cung kính đảnh lễ ! ;

Đại diện cao cả của tất cả những bộ Phật và những Mandala .

Con đảnh lễ ngài ;

Hỡi bậc chiến thắng mỹ mãn và siêu việt .

Xin hãy giải thoát cho con và những người khác ;

Và mọi chúng sinh trôi dạt trong vòng sinh tử .

Xin giải thoát chúng con ;

Khỏi biển cả hữu vi và truyền cho chúng con cảm hứng..

Khi tôi cầu nguyện xong những lời này . Những tia sáng năm màu tỏa ra từ tim của bậc chiến thắng và tan vào tim tôi . Ngay lúc đó tôi trải nghiệm tánh giác nguyên sơ của an lạc và tánh Không không thể tách lìa. Từ miệng của Như Lai đến với tôi bằng những lời nói : “ Con của ta , ta ca ngợi con như là nhiếp chính của ta . Ta ban cho con những quán đảnh của lối tiếp cận mật chú của Kim Cương thừa . Con đã đạt được những thành tựu ( Siddhi ) bình thường và cao cả ” . Nói xong , ngài đặt cái tráp pha lê trong hai tay tôi . Trong đó có những âm Om Ah Hum màu trắng , đỏ và xanh theo thứ tự .
Ngài nói : “ Những cái này giống như món thừa kế từ sự giàu có của người cha tâm linh của con . Thế nên ; hãy nuốt chúng không để lại sót thứ gì ” . Khi tôi nuốt xong . Nhiều chủ đề Phật pháp và những trí nhớ sống động về những đời trước trở nên rất rõ ràng . Tôi cũng như nhớ lại những giáo lý đã nghe , tư duy và thiền định về chúng ” .
“ Vào một dịp khác . Một Dakini đưa tôi đến Oddiyana cõi của những Dakini . Nơi đó tôi gặp Vajravarahi . Vị cao nhất trong những Dakini . Từ tay ngài phát ra bốn âm sinh lực của những Dakini ( Ha Ri Ni Sa ) và tôi mặc một áo giáp bảo vệ làm bằng những tia sáng . Lúc đó , từ đầu vú phải của ngài âm Bam phóng đến và tan vào tim tôi và khiến tôi chiến thắng mọi chướng ngại . Tôi đạt được sự làm chủ những năng lực tâm linh và những khả năng thần thông . Những Dakini để lộ mặt cho tôi thấy và ban cho tôi cam lồ từ chén sọ của các vị . Sau đó nói những lời tiên tri về sự cần thiết phải nương dựa vào những vị thầy tâm linh . Cùng lúc , hàng trăm cánh cửa mở ra để được nghe và tư duy về những giáo lý ” .
Quán Thế Ấm , Bồ tát cao cả của lòng từ . Giữ gìn Dudjom Lingpa và làm bạn đồng hành mang hình thức một cậu bé da sáng , đẹp trai và trẻ trung . Văn Thù Sư Lợi , Sư Tử của Ngữ chăm sóc cho ngài . Khiến cho năng lực của trí huệ siêu việt cháy sáng trong ngài . Thêm nữa , ngài được chăm sóc và ban phước bởi những hiện thân của tạng giác nguyên sơ như những bổn tôn và đức thầy : Đấng của những Bí Mật Vajrapani . Đại thành tựu giả Saraha , tám vị nắm giữ vĩ đại tánh giác vốn sẵn , Longchen Rabjam , Zurchhung Sheyrab Dragpa và những vị khác . . .
Ngài du hành đến Núi Vinh Quang trên tiểu lục địa Ngayab . Dù chỉ sống một ngày theo thời gian của con người . Nhưng đối với ngài , như đã dừng lại đó mười hai năm . Từ Orgyan vĩ đại , ngài đã nhận những giáo huấn tâm linh làm chín muồi và đi đến giải thoát . Bậc thầy vĩ đại này đã giao Dudjom Lingpa làm người nhiếp chính của mình như bậc bảo vệ chúng sinh trong những thời suy thoái tâm linh . Trong mỗi nguyên tử Dudjom Lingpa nhìn thấy những đại dương của những hiện thân giác ngộ và những tịnh độ . Và từ mỗi hiện thân giác ngộ những hóa thân lưu xuất vô cùng của ngài . Nghe những giáo lý mà sự tưởng tượng bình thường phải rất khó khăn mới hiểu được .
Với sự khởi lên của những nghiệp lành trong những đời trước . Dudjom Lingpa đạt được trí huệ hoàn toàn. Khiến những ai tìm kiếm những chỉ bảo để học hỏi và thành tựu tâm linh đều tôn kính sùng mộ ngài. Những chúng hội Dakini như Yeshe Tsogyal tiên tri những biến cố xảy ra cho ngài và chăm sóc ngài như một đứa con . Những vị bảo vệ đã thệ nguyện . Những vị giữ gìn cho Phật pháp và những vị bảo vệ những giáo lý kho tàng che dấu đều theo ngài như cái bóng và theo lệnh của ngài .
Ngài không có sự khao khát những đam mê tầm thường . Hơn nữa , ngài thoát khỏi mọi khuyết điểm của bám luyến do theo con đường tham muốn bình thường . Ngài là một Đại thành tựu giả theo nghĩa chân thật của từ này – Người duy trì những nguyên tắc cao nhất của hạnh thanh tịnh . Ngài bị tác động sâu xa bởi từ bi và đã trau dồi Bồ đề tâm cao cả . Động cơ vị tha làm lợi lạc cho người khác trải qua rất nhiều kiếp. Đến độ những ai có sự nối kết với vị Đại bồ tát – Người con của những bậc chiến thắng . Đều tìm thấy mục tiêu trong mối nối kết ấy .
Trong sự theo đuổi phương tiện thiện xảo tối thượng của Con Đường Ngắn – Kim cương thừa . Bậc thiền giả vĩ đại nhất đẩy đến giới hạn xa nhất của sự chứng ngộ sinh tử giai đoạn phát triển . Đến độ ngài tri giác những sắc tướng và những âm thanh là : Trạng Thái Thanh Tịnh – Mandala của tánh giác nguyên sơ .
Tánh giác nguyên sơ trở nên rõ ràng với ngài như phúc lạc đang cháy trong thân . Đó là sức mạnh trong lời và sự chứng ngộ trong tâm ngài . Đàn ông và những Daka , phụ nữ và những Dakini . Thức ăn và tài sản đều gom tụ quanh ngài như mây . Ngài là bậc thầy vĩ đại của sự chuyển hóa . Thi hành hoạt động cho những mục đích đáng ao ước . Chứng tỏ sự làm chủ với bốn loại hoạt động và tám hoàn thành tâm linh như đi qua không gian hay vật chất đặc .
Giai đoạn thành tựu bao gồm sự nỗ lực là lối tiếp cận kỳ diệu . Qua những phương tiện thiện xảo mạnh mẽ. Vị anh hùng tâm linh vĩ đại , hoàn toàn điều khiển những năng lực vi tế chuyển động trong kinh mạch Roma và Kyangma – Những kinh mạch hai bên của phương tiện thiện xảo và trí huệ siêu việt . Những “ Lối đi của mặt trời và mặt trăng ” này được đưa vào không gian căn bản của Dhuti – Kinh mạch trung ương .
Với việc này , ngài chiến thắng đối những tạo tác máy móc của mê lầm được sinh ra từ : Những năng lực vi tế bất tịnh của nghiệp . Kích thích bởi năng lực vi tế của Tánh Giác Tự Hữu – Sự vận hành của hơi nóng thiêng liêng Chandali chuyển hóa ba kinh mạch và những luân xa Chakra . Làm trống và đốt cháy tiêu những khuôn khổ tư tưởng bám chấp nhị nguyên trong cõi giới bao la của trí huệ siêu việt bất nhị .
Sự chói sáng của những điều này thấm nhiễm ngài với : Mười sáu cấp độ của niềm vui – Tiến trình thay đổi bề ngoài của cái thực sự là cấp độ tối cao không thay đổi của phương tiện thiện xảo . Điều này đưa đến “ Lạc tối thượng và sáng rỡ của tính bình đẳng ” . Lúc đó ngài có cách thức của hạnh ; đặt những hiện tượng hình tướng vốn tự biểu lộ dưới thần lực ; và làm tràn ngập những hình tướng bên ngoài với sự vinh hiển của chứng ngộ của ngài .
Hạnh của ngài trở thành điệu luân vũ . Qua đó ngài khơi gợi bằng những cách rất trực tiếp – Phương diện lạc phúc tối thượng của tánh giác nguyên sơ của bất kỳ ai có nghiệp thích hợp và phước đức lớn .
Lối tiếp cận đặc biệt nhất – Con đường bí mật nhất của mọi con đường bí mật là : Con đường nhanh chóng của quang minh hay tịnh quang triệt suốt . Chót đỉnh của Kim cuơng . Không bị thấm nhiễm bởi những nhận định tốt hay xấu . Vì tánh giác nguyên sơ là hợp nhất bổn nguyên của tánh giác vốn sẵn và tánh Không . Phi thời gian trong sự thanh tịnh bổn nguyên của chính nó . Đây là bản tánh vốn không bị điều kiện hóa của tự tâm . Nó chính là Bồ đề tâm của Samantabhadra ( Phổ Hiền ) không chút tạo tác . Điểm then chốt bí mật của cái thấy hay tri kiến trở nên hoàn toàn rõ ràng với Dujom Lingpa .
Về phần tiến trình thiền định không gắng sức – Bản tánh của tất cả mọi hiện tượng là : Rốt ráo không nỗ lực . Thoát khỏi mọi cảm thức “ Cái này phải được làm ” hay “ cái này được làm như thế nào ” . Vượt khỏi những quan niệm bình thường về thiền định hay không thiền định và là trạng thái tự nhiên không thi thiết giả tạo ( Không tạo tác ) .
Không có lớp che ám của sự không biết ( Vô minh ) về Tánh Giác Nguyên Sơ trong suốt và trùm khắp . Không có những biên giới chật hẹp của hy vọng và sợ hãi . Vì tất cả đều rỗng rang và thong dong . “ Yoga của hư không ” là : Yoga về Pháp Giới Bao La Tối Thượng đồng thời thể hiện Chứng ngộ và Giải thoát .
Trong đó không có gì gọi là thiền định cũng không có gì gọi là phóng dật . Giác ngộ bên trong là sự sáng chói không dứt thể hiện từ bên trong con người . Đó là bản tánh cố hữu của tất cả những phẩm tính tốt đẹp của các thân ; và tánh giác nguyên sơ hiện diện tự nhiên không cố gắng .
Bằng cách làm chủ những điểm then chốt những tư thế của thân và những kỹ thuật nhìn ngắm con đường “ Vượt qua điểm đỉnh ” ( Thod-gal ) . Dudjom Lingpa gặp gỡ những hình tướng xuất hiện trong thị kiến của Thật Tánh Thực Tại . Có nghĩa của Hư không căn bản ( Ying ) , những quả cầu ánh sáng ( Thig-le ) và sự sáng chói của tánh giác nguyên sơ ( Rig-dang ) .
Khi ngài đạt được tri giác trực tiếp về ba cái này . Chúng được nâng cao chất lượng và đạt đến sự biểu lộ trọn vẹn Nhất như – Những thị kiến về con đường được khai mở trong nháy mắt như một đại dương . Những phẩm tính diệu kỳ khởi lên như những hình thức của những Bổn tôn hòa bình và hung nộ .
Những Dakini hư không căn bản của Tánh Giác Nguyên Sơ . Ban cho ngài kho tàng sâu xa và bí mật tối thượng của các vị ; và ca tụng bằng những tiên tri về những mục tiêu cao cả và rộng lớn ngài sẽ làm trong tương lai . Các vị cổ võ ngài mở cánh cửa vào kho tàng của những bí mật của Dakini . Trong thị kiến về Tánh Giác Nguyên Sơ Vô Trụ . Ngài trầm mình trong những thị kiến về toàn bộ vũ trụ như là một thực thể bao la của sự thanh tịnh .
Những kho tàng đã được giấu kín của tâm giác ngộ vô tận . Tuôn ra tất nhiên từ Pháp giới bao la của ý nguyện giác ngộ . Trong việc giải tỏa niêm ấn làm tin của những Dakini phát lộ những kho tàng được giấu kín sâu xa . Dudjom Lingpa là người phát hiện cao cả những kho tàng như một vị vua vũ trụ vĩ đại của những vị thầy .
Ngài truyền bá kho tàng về những giáo lý châu ngọc được cất dấu . Và nó biến thành một buổi tiệc lớn cho những người may mắn cần được điều phục để thưởng thức như : Những giáo lý về : Guruyoga , Đại Toàn Thiện , Bồ Tát Quan Thế Ấm . Về những giai đoạn phát triển và thành tựu , những thực hành hàng đầu và những kỹ thuật phụ . Cũng như những hoạt động nghi lễ nhỏ dành cho vô số mục tiêu .
Có những người trong thời đại suy thoái tâm linh ; rất khó điều phục bằng những lối tiếp cận tâm linh có sự cố gắng . Vì thế những tiên tri Kim cương tán dương sự cần thiết dùng tự điều phục bằng lối tiếp cận không cố gắng của Ati , Đại Toàn Thiện , Tinh túy bí mật của chân lý xác quyết . Hoàn toàn phù hợp với những tiên tri danh riêng sự lợi lạc cho những người may mắn cần được điều phục . Nên Dudjom Lingpa đã thắp lên ngọn đèn những giáo lý về lối tiếp cận chót đỉnh của những Bí mật tối thượng .
Hình tướng cao cả và hấp dẫn của ngài với áo trắng và những lọn tóc dài rũ xuống mang lại sự giải thoát trong cái nhìn của mọi người . Nhất là có thể tùy ý đeo mang những vật tầm thường . Nơi tai ngài đeo những vòng tù và lớn có thể cứu sống lại những người bị giết . Ánh sáng cầu vồng , mưa hoa và mùi hương thơm khi ngài cử hành lễ quán đảnh . Trong những nghi lễ tập trung và những tiệc cúng dường . Những dấu hiệu thành tựu được những người trực tiếp hiện diện chứng kiến .
Một phần lợi lạc đến từ những bài ca Kim cương du dương hát về giáo lý và lời khuyên tuôn chảy không dứt từ cổ họng vàng của ngài . Khi nghe được sẽ đưa đến giải thoát . Ngài giải thoát dòng tâm thức của các học trò . Vào lúc tập trung Bồ đề tâm của ngài vào họ . Kèm theo những lời sắc bén hay những cú đánh .
Bằng tám người hiện thân tiếp tục dòng giống của ngài . Mười ba đứa con tuyệt hảo của lòng đạt đến thân cầu vồng . Khoảng một ngàn người học trò đạt được cấp độ nắm giữ tánh giác vốn sẵn và với nhiều người khác nữa . Ngài đã lập một dòng những thành tựu giả . Trong những giấc mộng của ngài . Một cậu bé chư thiên tên là Dung-gi Zurphud và một phi nhân tên là Zurme từng là em của ngài . Tiết lộ những biểu tượng của ngài và tiên tri rằng : Sự lợi lạc cho những chúng sinh từ những kho tàng của ngài sẽ đi đến phương Tây .

Họ nói :

“ Ở những thành phố ở phương Tây ;

Có những người đáng được ông điều phục ” .

Họ cũng nói :

“Ấm vang tù và ở phương Tây ;

Là dấu hiệu danh tiếng của ông tăng lên mạnh mẽ .

Những tia mặt trời chiếu sáng những cái hố trên mặt đất .

Tượng trưng cho những người ông sẽ điều phục ” .

Đúng như những tiên tri . Chúng ta đã thấy những hoạt động liên hệ với những kho tàng của Dudjom Lingpa . Lan tỏa và nở hoa trong những vùng xa . Đặc biệt là bán cầu phía Tây . Quả thật rất khó diễn tả chính xác ý nghĩa của những bí mật không thể quan niệm của Ngữ giác ngộ . Trong những kho tàng của một vị vua Phật pháp như nhà phát kiến kho tàng vĩ đại Dudjom Lingpa .
Tuy nhiên , bản dịch này được một dịch giả thông thạo tiếng Anh và tiếng Tây Tạng đảm nhiệm . Đó là nhờ những ý nguyện và duyên nghiệp trước kia là Chõkyi Nyima về tiếng Tây tạng . Và Richard Barron những ngôn ngữ tiếng Anh Canada và Hoa kỳ . Bản dịch tinh xảo này được biên tập cẩn thận nhiều lần để thêm phần chính xác . Bảo đảm sự trong sáng và dễ hiểu . Riêng tôi ; cũng góp phần vào tiến trình dịch thuật và biên tập toàn bộ . Bằng cách cúng dường những phương thức phục vụ riêng mình với sự kính trọng chân thành về những lời dạy .
Như Dudjom Rinpoche đã nói trong Lời Bạt . Những lời của bản văn này là : “ Xá lợi của Pháp thân ” . Có thể được đọc bởi người đã một lần đích thân nhận những giáo lý này từ một vị Lama giữ dòng . Cho đến lúc bản văn được giữ như một vật để tôn thờ .
Nếu được hoàn cảnh này . Không nghi ngờ gì . Con người sẽ vượt lên chiến thắng những chướng ngại và những nghịch cảnh . Và hoàn thành những hoàn cảnh giúp đỡ và mang lại lợi lạc tức thời trong đời này và tương lai .

Dù tấm gương cuộc đời ;

Của bậc bảo vệ khó diễn tả trọn vẹn .

Nhưng tôi vẫn gắng sức nói ngắn gọn ;

Về những thái độ hoàn toàn cao cả .

Qua sức mạnh của việc làm này ,

Nguyện bậc che chở ;

Hướng dẫn tôi trong mọi cuộc đời .

Và nguyện ;

Khả năng làm lợi lạc cho chúng sinh của riêng tôi ,

Cũng lớn lao như ngài .

Bậc che chở tôi ;

Từ những chiều sâu vô tận .

Của tâm giác ngộ của ngài bí mật và sâu xa ,

Phát ra sự chỉ dạy sâu thẳm về ;

Phật Quả Không Thiền định .

Và làm hiển lộ rõ ràng khuôn mặt thật của chính mình ;

Như là đại Toàn Thiện tức Bản tánh vốn có .

Với động cơ vị tha ,

Những thí chủ đỡ đầu công trình này ;

Một dịch giả đã thông thạo hai thứ tiếng .

Đã giới thiệu bản dịch ;

Và những người biên tập tẩy sạch những sai sót .

Cho tất cả chúng sanh trong ba cõi ,

Nhất là cho những ai biểu lộ sự tôn kính với Giáo lý .

Nguyện những sự méo mó của ba che chướng ;

Tiêu tan trong hư không căn bản của những hiện tượng ,

Và nguyện bản tánh nền tảng của họ ;

Bồ đề tâm của ba thân trở nên rõ ràng .

Mở đầu

Phật Quả

Không Thiền Định

Chỉ dạy để làm hiển lộ rõ

Khuôn Mặt Xưa Nay Là:

Đại Toàn Thiện Hay Bản Tánh Cố Hữu .

Với đức tin không lay chuyển ;

Tôi kính lễ bậc tối thượng .

Bậc bảo vệ bổn nguyên ,

Thành trì thiêng liêng nhất của sự phô diễn như huyễn ;

Của tánh giác nguyên sơ .

Ngày nay khi năm loại thoái hóa lên cao . Chúng sinh không trừ một ai đều thô thiển , hoang dã và chao đảo trong sức mạnh của nghiệp xấu . Bám chấp vào giấc mộng thoáng qua của đời người . Họ tạo ra những kế hoạch lâu dài như thể sự lưu ngụ này là mãi mãi . Thế nên , xoay lưng với việc tìm kiếm cái gì có ý nghĩa cho tương lai .
Vì lý do này , tôi cảm thấy những ai chân thành tìm kiếm giải thoát và toàn giác hiếm như tìm sao giữa ban ngày . Dù có thể ý thức về việc mình phải chết và nhiệt tình thực hành Phật pháp . Họ cũng chỉ đầu tư cuộc đời vào những hành vi của thân vật lý và lời nói đạo đức . Như vậy chỉ theo đuổi những tái sinh cao hơn của cõi trời người .
Một số người không hiểu chút gì về tri kiến tánh Không . Họ cho rằng tâm của họ trống không . Nhưng những gì họ nói không gì khác hơn là trạng thái tư tưởng lan man hay sự tỉnh giác thụ động . Vì nếu sống trong trạng thái này sẽ không có gì để làm hay thực hành . Điều này sẽ thúc đẩy họ tái sinh trong cõi trời dục giới và sắc giới . Không thể mang họ đến gần con đường toàn giác cho dù khoảng cách như một sợi tóc.
Thế nên , nếu một ít cá nhân có tâm đạo . Nhất là đã trải qua vô số kiếp tích tập bao la và kết nối những công đức với nguyện vọng cao cả . Có nghĩa đã thiết lập sự nối kết bằng nghiệp lành với những giáo lý về thực tập tối hậu . Chắc chắn tôi sẽ chỉ dạy họ theo phước lành và khả năng của chính họ để thấu hiểu .
Những người không có mối liên kết nghiệp với tôi hay phước lành để sử dụng được những giáo lý đại Toàn Thiện . Và làm sai lệch hay phản đối giáo lý này . Như thế họ chỉ xua đuổi tâm thức vào chốn hoang vu đơn độc . Các bạn có tâm đạo và có phước lành như tôi . Hãy nên xem xét những lời khuyên bảo này . Qua khảo sát và phân tích , qua làm quen và nhờ vào những người thân thuộc . Hãy nhận biết Sinh tử và Niết bàn là Tánh không tối thượng . Như vậy hãy chứng ngộ bản tánh nền tảng . Sau đây là ba phạm trù về tiếp cận Đại Toàn Thiện hay Tự tánh :

1-

Phạm trù tâm .

Sem-dhe ) .

2-

Phạm trù cõi giới bao la .

Long-dhe ) .

3-

Phạm trù những giáo huấn trao truyền trực tiếp .

Man-ngag-dhe ) .

Bản văn này thuộc loại được gọi là phạm trù bí mật của những giáo huấn trao truyền trực tiếp có ba phần :

1-Cái thấy

( Ta-wa) .

2-

Thiền định

( Gom-pa ) .

3-

Hạnh

( Kyod-pa ) .


Chương I: Tánh Không Của Mọi Sự Vật 

Những Lối Vào Thực Tại Tối Hậu - Phật quả không thiền định 1

Trước tiên , để đạt đến một kết luận quyết định về cái thấy hay tri kiến . Điểm then chốt thiêng liêng là phải đi đến một cái hiểu quyết định qua sự tham thiền về bốn chủ đề :

1-

Không hiện hữu

( Med-pa ) .

2-

Nhất thể

( Chig-pa ) .

3-

Châu biến đồng nhất

( Khyal-wa ) .

4-

Hiện diện tự nhiên

( Lhun-drup ) .

Bốn vấn đề này , chúng ta phải chứng ngộ chúng đúng như chúng là . . . Tiến trình đạt đến kết luận quyết định về sự không hiện hữu của những sự vật bao gồm hai phần :

1-

Đạt đến kết luận quyết định về tự ngã của cá nhân .

2-

Kết luận quyết định về tự tánh của những hiện tượng .

Trước hết , chúng ta hãy xác định “ Tự ngã cá nhân” . Từ ngữ này ám chỉ cảm tưởng có một cái ta hiện hữu hoặc trong khi thức , những trạng thái mộng . Trạng thái trung ấm . Trạng thái trung gian giữa chết và tái sinh hay trong đời tới . Dính liền với cảm tưởng đầu tiên này , có một cái thức tiềm ẩn nhận cảm tưởng này là một “Cái tôi” ; được gọi là “Thức tiếp theo” hay “Suy nghĩ diễn dịch lan man” .
Khi trở nên rõ ràng hơn , cảm tưởng về “Cái tôi ” này thành vững chắc và cứng đặc. Bằng cách nỗ lực định vị nguồn gốc từ đó cái gọi là “Tôi” này sinh khởi; bạn sẽ đến kết luận: Nó chẳng có nguồn gốc đích thật nào như vậy. Trong khi tìm chỗ của tự ngã trong khoảng tạm thời (giữa sinh và diệt dứt) . Bạn cần tham cứu theo cách sau đây để xác định: Đối với “Cái gọi là tôi”. Có nơi chốn và tác nhân nào như những thực thể có thể được nhận dạng cách cá biệt và những tính chất xác định hay không.
Cái được gọi là “đầu” không phải là cái tôi. Tương tự, “da” không phải là cái tôi. Xương chỉ được xem là “xương” không phải là cái tôi. Cũng thế, mắt chỉ là mắt, không phải là cái tôi. Mũi chỉ là mũi đâu phải là cái tôi. Lưỡi chỉ là lưỡi không phải là cái tôi. Răng chỉ là răng không phải là cái tôi. Óc cũng không phải là cái tôi. Những bắp thịt, máu, mạch máu, dây thần kinh, gân. Chỉ là những cái tên riêng biệt. Chúng không thể gọi là “Tôi”. Từ điều này bạn có thể hiểu biết. Hơn nữa hai cánh tay chỉ là cánh tay không phải là cái tôi. Hai vai cũng không phải là cái tôi, phần trước cánh tay cũng vậy, hay những ngón tay cũng vậy. Xương sống, xương sườn, ngực, phổi, trái tim, ruột gan . . .cũng không phải là cái “Tôi” .
Cái được đặt tên là “Tôi” không phải là chân. Cái tên “đùi” không phải là từ ngữ chỉ định “tôi”. Nó chỉ được áp dụng riêng cho đùi. Tương tự, hông không phải là tôi . Ống quyển, mu bàn chân hay những ngón chân không phải là tôi. Tất cả những thứ khác nơi thân thể. Đó chỉ là tên gọi riêng nhưng không thể chỉ định là “Tôi”. Thậm chí tâm thức được định danh bởi sự đặt tên. Không thể chỉ định nó là “Tôi”. Vì thế, có thể xác định “Cái không” là sự không có bất kỳ nơi chốn hay tác nhân nào. Cho dù trong khoảnh khắc thời gian.
Tương tự chúng ta nên đi đến một quyết định về: Sự siêu việt không thể cầm nắm của mọi nơi cho đến cuối cùng và của mọi tác nhân đi tới đó. Thực vậy, như người mắt yếu, sự xuất hiện của những thứ hiện hữu nơi chẳng có gì hiện hữu. Cho nên, nói đến tất cả những định danh này thì chỉ như diễn tả sừng thỏ. Thứ hai, để đạt đến quyết định về: Sự không có của tự tánh của những hiện tượng. Bạn phải tìm căn cứ của sự đặt tên và vất bỏ những quan niệm về sự thường còn của những thực thể vật chất. Những khuyết điểm ẩn kín của lợi và hại và phá sụp hang động hư giả của hy vọng và sợ hãi.
Trước hết, nếu tìm kiếm những đối vật tối hậu đã được gán tên. Bạn sẽ tìm thấy tổ hợp ấy không là gì ngoài sự gán tên cho cái không hiện hữu và chỉ là tư tưởng ý niệm. Sở dĩ như vậy vì không thể nào xác định bất kỳ một hiện tượng nào khác là tự tồn tại làm một căn cứ cho sự gán tên. Chẳng hạn, “cái đầu ” là sự gán tên cho cái gì và tại sao? Có phải sự gán tên được áp dụng bởi cái đầu tạo thành giai đoạn thứ nhất của sự lớn lên của thân thể hay vì nó tròn. Vì nó xuất hiện trên đỉnh của thân ?
Thực ra, đầu không phải là giai đoạn thứ nhất trong sự lớn lên của thân thể . Từ dùng chỉ định “đầu” không chỉ cái này tròn . Khi bạn khảo sát những quan niệm “cao và thấp”. Bạn sẽ thấy . Không có gì tuyệt đối cao hay thấp trong không gian . Tương tự , tóc trên đầu không phải là đầu . Da đơn thuần chỉ là da chứ không phải được định danh là “đầu” . Xương, não, mắt, tai, mũi, lưỡi không phải là đầu .
Bạn có thể nói: Nếu chúng ta để riêng những thứ này ra . Chúng không phải là đầu . Nhưng tập hợp của chúng được gọi là “đầu” . Nhưng khi cắt cái đầu ra , nghiền thành bột . Rồi chỉ đám bột này cho bất cứ người nào trên đời này . Không ai có thể nói đó là cái đầu . Thậm chí , nếu những hạt ấy được kết hợp lại với nước . Khối này cũng không phải là đầu . Thế nên , cần hiểu rằng: Cái được gọi là đầu . Không gì khác hơn sự biểu lộ về ngôn ngữ và căn cứ cho sự biểu lộ ngôn ngữ này không hiện hữu khách quan .
Tương tự như mắt. Danh từ mắt không để chỉ những quả cầu song đôi. Màng bọc bên ngoài không phải là mắt. Chất dịch, dây thần kinh, mạch máu, và máu không phải là mắt . Nếu phân tích những thành phần này một cách riêng rẽ . Bạn sẽ xác định được: Không có cái nào trong đó là mắt . Mắt cũng không phải là những hạt của khối tập hợp “Mắt” . Cũng không phải là khối kết hợp với nước. Cái thấy những hình ảnh chỉ là trạng thái của thức. Không phải do mắt. Bằng cớ là trong giấc mộng và trong trung ấm người ta thấy bằng mắt.
Tai chỉ như chiếc ống nghe. Nó không phải là tai. Da không phải là tai . Xương sụn, dây thần kinh, mạch máu, máu và nước dịch đều có tên riêng của chúng. Nên chúng cũng không phải là ta. Bột có từ sự nghiền tán chúng không phải là tai. Khối kết hợp bột đó với nước không phải là tai. Nếu bạn nghĩ rằng: Từ ngữ “tai” dùng chỉ cái gì để nghe âm thanh . Thế thì , hãy quan sát cái gì nghe tiếng trong giấc mộng, trong khi thức và trong trung ấm . Đó là do tâm bình thường, nghĩa là thức . Nó thuộc về phi thời gian và hiện diện một cách nguyên sơ . Chứ không phải là tai.
Tương tự như vậy với mũi và lưỡi hay bất cứ bộ phận nào của thân. Khi khảo sát căn cứ những danh từ nói về “thân thể” và “khối cơ thể”. Có thể bạn thấy rằng xương sống và xương sườn không được gọi là thân thể như: Tim, phổi, gan, hoành cách mô, ruột; thận . . .được nói đến bằng tên riêng là trống không. Như thế căn cứ cho sự đặt tên “thân thể” cũng trống không. Vì không hiện hữu khách quan.
Nếu tìm căn cứ định danh về “núi” thuộc thế giới bên ngoài. Bạn sẽ thấy: Đất không phải là một trái núi; cỏ và cây không phải là núi. Đá; vách đá hay nước không phải là núi. Nếu tìm căn cứ của định danh “nhà”. Bạn thấy đất , đá , gỗ không phải là nhà. Những bức tường được gọi là tường, chúng không được gọi là nhà. Như vậy, không có ở đâu cả cho dù trong hay ngoài để có thể thấy được cái nhà hiện hữu.
Từ đó, bạn có thể tìm căn cứ cho những định danh: “con người”, “ngựa”, “chó”…Cho dù với bất cứ định danh nào. Khi thức tham dự vào sẽ có những tên riêng của chúng . Vì không có căn cứ nào cho những định danh “con người”, “ngựa”, “chó”…hiện hữu một cách khách quan. Tất cả đều minh chứng trong sự thật duy nhất này. Hơn nữa, những tên gọi và những chức năng đều có thể thay đổi. Chẳng hạn: Con dao được làm thành cái dùi và tên của nó thay đổi hay khi một cái dùi được làm thành một cây kim. Như thế những sự đặt tên từ trước trở thành không thật.
Dựa trên lời dạy của thầy tôi. Bậc Từ Bi Vô Thượng cao cả và thiêng liêng (Đức Quán Thế Ấm) đã nói trong giấc mộng. Nên tôi đã thấu hiểu hai đề mục về “Ngã” của cá nhân và sự tầm tư căn cứ cho sự định danh vật thể.


Chương II: Thể Nhập Vào Như Huyễn
Một lần nọ , tôi gặp hiện thân như huyễn của trí huệ hay tánh giác nguyên sơ của Orgyan Tsokyey Dorje . Ngài ban cho tôi những chỉ dạy để làm sạch tri giác về những hiện tượng như huyễn .

Ngài nói :

“ Trực tiếp đưa vào sự phụ thuộc lẫn nhau nhân và duyên cùng hiện hữu ( duyên sinh) . Hãy xem xét : Yếu tố nhân là nền tảng hiện thể như hư không căn bản . Sáng tỏ vi diệu và có khả tính cho bất cứ cái gì sinh khởi . Yếu tố duyên là thức quan niệm hình thành ra một cái “ Tôi ” . Từ sự hợp chung hai yếu tố này . Mọi hiện tượng hình tướng chỉ biểu lộ như huyễn ảo .
Như vậy , nền tảng hiện thể như là Hư Không Căn Bản ( Zhi-ying ) . Về Tâm Bình Thường ( Sem ) sinh khởi từ năng lực ( Tsal ) của hư không căn bản . Những hiện tượng bên ngoài và bên trong là phương diện biểu lộ của tâm bình thường . Cả ba liên kết với nhau như mặt trời và những tia sáng . Do đó , chúng ta có thế nói : “ Tất cả đề có thể xảy ra trong sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau ” hay “ Xảy ra theo duyên sinh”.
Có một vài thí dụ về tiến trình này . Giống như sự xuất hiện những ảo ảnh do huyễn thuật ( Gyu-ma ) . Tất cả đều dựa vào sự sáng tỏ vi diệu của hư không như yếu tố nhân và biểu lộ liên kết phụ thuộc lẫn nhau . Đồng thời tạo ra những yếu tố duyên . Đó là tính chất huyễn thuật . Như thần chú và tâm thức tạo thành ảo ảnh .
Mọi hiện tượng biểu lộ theo cách như vậy nên không hiện hữu . Nhưng nó xuất hiện nhờ vào ảnh hưởng từ việc quan niệm ra “ Cái tôi ” . Tiến trình này như những ảo ảnh ( Mig-gyu ) . Xuất hiện từ sự đồng bộ của không gian trong sáng , hơi nóng và sự ẩm ướt . Mọi hiện tượng hình tướng của ý thức khi thức . Trạng thái mộng , trạng thái trung ấm và những đời tương lai dù có biểu lộ nhưng không hiện hữu và không thật.
Mê lầm xuất hiện là vì chúng ta gán cho chúng một sự thật không hề có . Điều này giống như một giấc mộng ( Mi-lam ) . Nhưng người ta không hề xem nó là giả . Họ thường nghĩ rằng : “ Đó là giấc mộng bám vào một khung cảnh có thật khách quan ” ; và trụ chấp vào đó .
Do duyên là tri giác bên trong về cái “ Ta ” áp chế . Những nguyên tố vô vàn hiện tượng của kinh nghiệm biểu lộ như là những “ cái khác ” . Điều này giống như sự xuất hiện của phản chiếu ( Zug-nyan ) liên kết phụ thuộc lẫn nhau của khuôn mặt và tấm gương .
Mắc bẫy sâu trong vọng tưởng ra một tự ngã , tự tánh và sáu cõi sanh tử biểu lộ tùy theo những hiện tượng. Điều này giống như những thành phố Càn Thát Bà ( Dri-zai drong-khyer ) xuất hiện trên cánh đồng lúc mặt trời lặn . Đó chỉ là những kinh nghiệm chủ quan thuộc về mắt của tâm thức bình thường .
Khi những xuất hiện hình tướng do sự kích thích của giác quan . Chúng không thể thiết lập và hiện hữu như những hiện tượng đa thù được thấy , nghe , ngửi , nếm hay cảm thấy . Sự thực tất cả chỉ giống như những tiếng vang ( Drag-cha ) . Những xuất hiện hình tướng tự phát sinh như thể chúng là cái gì khác .
Mọi hiện tượng bề ngoài không gì khác hơn là nền tảng của hiện thể . Cùng một vị với bản thân nền tảng . Như sự phản chiếu của tất cả tinh tú trong đại dương ( Gya-tsoi za-kar ) . Không khác với đại dương và cũng cùng một vị với bản thân nước biển .
Do vọng tưởng ra một cái “ Ta ” – Tự ngã và cái khác . Biểu lộ như thể có thật trong bầu trời mênh mông nền tảng của hiện thể .hư không căn bản vô biên . Điều này tương tự như bọt nước trên mặt nước ( Chu-bur-gyi bu-wa ) .
Sự sáng tỏ vi diệu nền tảng của hiện thể như hư không căn bản và trống rỗng . Bị cưỡng ép thành những giới hạn chật hẹp chủ quan của thức ý niệm hóa . Ảnh hưởng của thói quen cố hữu . Gây ra những hiện tượng hình tướng sinh ra từ mê lầm . Biểu lộ thành đa thù khác biệt không cùng . Điều này giống như sự xuất hiện của một ảo giác ( Mig-yor ) khi ấn vào mắt hay khi hệ thần kinh bị rối loạn vì sự mất cân bằng của các khí.
Những hiện tượng hình tướng biểu lộ từ nền tảng hiện thể sai biệt vô cùng . Tạo duyên cho thức vọng tưởng ra một cái “ Ta ” . Nhưng chúng không lìa hay ra ngoài nền tảng này . Điều này giống như hành giả đã làm chủ những trạng thái nhập định . Cho phép biến thành và điều khiển những hình bóng quỷ thần ( Trul-pa ) . Cho dù nhiều hình bóng khác nhau biểu lộ một người đắm mình trong tiến trình biến ra và điều khiển . Thực ra , những hình bóng này . Hoàn toàn không có nền tảng hay căn cứ và không thể cho là những đối vật có thật .
Hỡi đứa con nhỏ phi thường của ta . Hãy thiền định dần dần theo cách này ; và con sẽ chứng ngộ những hiện tượng hình tướng là như huyễn . Sau cùng trở thành một thiền giả của như huyễn ” .
Nói thế xong , ngài biến mất .


Chương III: Bảy Đặc Tính Như Kim Cương Của Hư Không

Một lần khác , bậc nắm giữ tánh giác nội tại – Duddul Dorje nói với tôi :

“ Kim cương ( Vajra) – Kim cương vĩnh cửu ;

Muốn biết thực nghĩa của nó .

Hãy nhìn thẳng vào hư không ! ” ,

Để phát hiện nghĩa của thực tại này .

Ngài nói như sau :

“A ! ; không gian trống không làm nền tảng cho sự sinh khởi toàn bộ thế giới ; như một đồ để chứa bao la và những vật được chứa trong đó . Thí dụ , giống như tấm gương là nền tảng cho sự sinh khởi hình bóng phản chiếu trong đó . Hình bóng đó không thể xem là cái gì khác với tấm gương . Như nước làm nền tảng cho sự sinh khởi của mặt trăng . Vì thế , mặt trăng trên mặt nước không thể xem là cái gì khác với nước . Như bầu trời là nền tảng cho sự sinh khởi cầu vồng . Vì thế , cầu vồng không thể xem là cái gì khác với bầu trời .
Hư không không thể bị thương tổn nên được xem là bất hoại . Vì hư không không thể bị chinh phục hay hủy diệt . Nên cho là bất diệt . Vì hư không thường trụ như cơ sở cho sự khai mở sự xuất hiện hình tướng tạo thành Nên xem nó là xác thực . Vì hư không không thể thoái hóa vì khuyết điểm hay phẩm tính . Nên cho nó là không hư hoại . Vì hư không không biến đổi . Nên gọi nó là vững chắc . Vì hư không thường hằng thấm lọt bất cứ hạt nào nhỏ nhất dưới cấp độ nguyên tử . Nên nó hoàn toàn không ngăn ngại . Và vì không có gì có thể làm hư hại . Nên nó bao giờ cũng là vô địch .
Vì mọi sự vật khác bị vũ khí làm thương tổn . Nên chúng có thể hoại . Vì những duyên có thể chinh phục hay hủy diệt . Nên chúng là có thể diệt . Vì chúng có thể thay đổi thành một hay nhiều vật . Nên chúng là hư giả . Vì chúng có thể bị thoái hóa bởi cái gì khác .Nên chúng là hư hoại . Vì chúng bao hàm chuyển động và lay động không có chỗ trụ thường hằng . Nên chúng không vững chắc . Chúng luôn bị ngăn ngại bằng mọi phương cách . Vì những duyên khác có thể giảm trừ chúng thành không . Nên chúng có thể bị đánh bại . Những sự vật có tính chất như vậy , có nghĩa không có tự tánh . Hoàn toàn không thực và trống không .
Hơn nữa , những vật thô có thể giảm trừ thành bột mịn và trở thành những phân tử . Những phân tử này có thể giảm trừ thành những nguyên tử . Đến lượt những nguyên tử này bị giảm trừ thành hư không. Vì thế , tính chất của những sự vật không thể xem là có thật .
Nếu con nghĩ rằng những sự vật ấy vốn hiện hữu . Nhưng bị giảm trừ thành không hiện hữu . Nếu con đi qua tiến trình như vậy . Hãy nhìn những hình ảnh trong giấc mộng . Chúng không thể hiện hữu . Thậm chí ngay khi chúng biểu lộ . Hãy quan sát cách những hình ảnh khởi lên hay diệt mất . Chỉ do thấy hay không thấy bởi mắt mở hay nhắm hay do cảm nhận của bàn chân đặt xuống hoặc không cảm thấy khi dở lên trong lúc bước đi .
Con có thể phản bác : “ Nhưng không phải là hình tướng trước kia chấm dứt và biến mất . Sau đó có một thực thể phát triển thay thế chỗ . Đúng hơn , khi hiện tượng hình tướng trong khoảnh khắc trước di chuyển đến một điểm thuộc thời gian khác . Mọi hình tướng trong những khoảnh khắc thời gian trước và sau . Vẫn hiện hữu theo cách có thể được xem là thật có ” .
Nếu con nghĩ như vậy , hãy nhìn lại những hình ảnh trong giấc mộng . Hãy xem xét kỹ sự việc . Vì không thể có bản chất nào hiện hữu tự nó . Không phải do định danh quy ước dựa vào tính liên hệ lẫn nhau của nhân và quả . Thế thì , những giải thích về bảy đặc tính như Kim cương của hư không . Dùng những thí dụ chỉ ra hư không không chuyển dời hay biến đổi vì không có chất thể và không có tự tánh . Chứng tỏ cách thế thường trụ thật tánh của thực tại là bản tánh không biến đổi . Không thể diễn tả , không thể quan niệm và vượt qua mọi ngôn ngữ văn tự .
Phần trên là luận chứng lý tưởng . Áp dụng vào những giải thích để phân biệt giữa thật tánh và không thật tánh . Giữa xác thực và hư giả . Thế nên , khi dùng biểu tượng như ngón tay để chỉ mặt trăng . Hãy nhìn thẳng vào mặt trăng và chớ đừng thỏa mãn vì chỉ nhìn vào đầu ngón tay . Nếu con không đạt đến xác quyết về tánh Không . Bằng cách làm quen với chủ điểm này và lập đi lập lại nhiều lần . Con không thể xích lại gần hơn chút nào con đường đi đến toàn giác .
Hỡi tiểu anh hùng ở chót đỉnh hiểu biết và trí huệ . Con phải nhìn thông suốt vào nghĩa điều này, . Và trở thành một thiền giả rỗng rang của hư không – Người chứng ngộ mọi hiện tượng hình tướng hư không “ .
Nói thế xong ngài biến mất .


Chương IV: Thể Nhập Tính Cách Như Mộng Của Tánh Không

Đạt đến kết luận quyết định như vậy . Tôi hiểu mọi hiện tượng hình tướng tự chúng đều trống không . Nhưng khi nhìn những hiện tượng hình tướng thế giới bên ngoài như món đồ chứa đựng . Chúng sinh hữu tình được chứa trong đó và những sự vật biểu lộ giữa khoảng đó như năm loại kích thích của giác quan . Tôi lại nghĩ đến chuyện bỏ chúng lại và đi đến cõi khác .
Về phần tất cả chúng sinh vẫn thực sự hiện hữu . Mỗi chúng sinh riêng với dòng tâm thức cá biệt. Trong thời kỳ này , trong giấc mộng tôi gặp Thầy tôi ( Longchenpa ) Drimed Odzer . Ngài dạy dỗ và ban sự thể nhập trực tiếp trong hình thức hỏi đáp .

Ngài nói :

“ Hỡi đứa con của dòng tộc vinh hiển . Khi đi ngủ , những hiện tượng hình tướng bên ngoài vũ trụ vô tình như món đồ chứa . Chúng sinh hữu tình ở trong đó và những sự vật biểu lộ như là năm loại kích thích của giác quan . Tất cả đều biến tan vào không gian của tánh Không nền tảng mọi kinh nghiệm bình thường . Giống như trò huyễn thuật ảo ảnh tan vào hư không căn bản . Sau đó , qua sức mạnh sáng tạo của năng lực nghiệp vi tế khơi động . Những hiện tượng hình tướng của “ Ta ” và thân thể tự biểu lộ .
Từ sự biểu lộ này trạng thái mộng mở ra . Toàn bộ thế giới như sự chứa đựng và mọi kinh nghiệm giác quan . Vì thế , có sự mê lầm . Hiển nhiên do có sự bám chấp vào những cái ấy . Cuối cùng , thế giới mộng với mọi hình tướng có thể có tan vào tánh Không nền tảng của mọi kinh nghiệm bình thường . Như cầu vồng tan mất trong bầu trời, và những hiện tượng hình tướng của tâm thức trong trạng thái thức vẫn hiện hình như trước ” .
Tôi đáp lại ngài : “ Con vẫn nghĩ : Thân thể con không chỉ là một hình tướng xuất hiện . Vì rõ ràng , nó sinh ra từ những nhân duyên là cha mẹ ” . Ngài nói : “ Nếu con nghĩ thân thể đến từ cha và mẹ . Thế thì , cái gì là bắt đầu và chấm dứt của cha và mẹ ? . Cái gì là nguồn gốc , chỗ ở và chỗ sau cùng của cái gọi là cha mẹ ? . Hãy nói cho ta biết ! ” . Tôi trả lời : “ Con nghĩ những cái đó có thật . Nhưng con không biết chúng . Con thấy thân thể vật chất mà không có cha mẹ là một điều bất khả ” . Ngài lại nói : “ Hãy xem xét điều này . Ai là cha mẹ của thân thể trong giấc mộng , trong trung ấm và trong những cõi địa ngục ? ” .
Với sự việc này , tôi đi đến quyết định . Thân thể này không thể xem là cái gì khác hơn hiện tượng hình tướng giả ảo . Và tôi tiếp tục : “ Thưa Thầy , con cảm thấy khi thân nằm trên giường với chăn mền . Những hình ảnh mộng sinh khởi trong khi thân thể và cõi người vẫn không thay đổi ” . Vị Thầy nói : “ Hãy tìm chỗ ở khách quan của sự phô bày biểu hiện đồ sộ này . Những hình ảnh mộng của hình tướng bên ngoài vũ trụ bao la vô tình . Như sự chứa đựng . Vô số chúng sinh được chứa trong đó và của những sự vật biểu lộ nơi khoảng giữa như năm loại kích thích của giác quan . Chỗ trú của tất cả những cái đó là ở trong đầu , tay chân , phần trên thân hay phần dưới ? ” .
Dù chắc chắn không có một chỗ nào như vậy cả . Tôi vẫn tiếp tục : “ Thưa Thầy , giả định những hình ảnh mộng sinh khởi khi tâm thức đi đến chỗ nào khác . Những hiện tượng hình tướng tâm thức trong trạng thái thức sinh khởi khi vào lại trong thân ” . Vị Thầy trả lời : “ Như vậy , thân thể sẽ giống như một khách sạn . Thế thì hãy nhận ra và diễn tả cho ta đâu là cửa của khách sạn từ đó thức bỏ đi và trở vào lại . Không chỉ thế , con cũng cần cho biết tâm thức trú ngụ chỗ nào . Nếu nó ở nơi phần trên thân . Thế thì , tại sao con cảm thấy đau khi phần dưới bị gai đâm ? . Nếu nó ở nơi phần dưới thân không có lý do nào để cảm thấy đau ở phần trên thân . Như thế, rất vô lý khi cho rằng nó có những kích cỡ khác nhau . Nó sẽ nhỏ khi đi qua một lỗ nhỏ . Và sẽ hoàn lại toàn thân như củ . Sau đó thu nhỏ lại để đi ra qua một lỗ nhỏ khác . Như vậy , khi thức lìa khỏi thân , tại sao nó không vào trở lại xác sau khi chết ? .
Môi trường của những hình ảnh mộng và nơi chốn khác con đi đến hiện hữu ở đâu ? . Ở trên hay dưới ? . Ở hướng chính hay hướng phụ ? . Con có cho nó đồng nhất với thế giới trong trạng thái thức như sự chứa đựng và những vật trong đó hay cái gì đó khác biệt ? . Nếu con cho là đồng nhất . Thế thì giấc ngủ có xác định những biên giới của hay không ? . Nếu giấc ngủ phân định ranh giới . Nó không phải là tri giác lúc thức . Nếu giấc ngủ không phân định ranh giới . Đâu phải là hình ảnh mộng . Nếu cho rằng những hiện tượng hình tướng như nhau đều có thật và quy vào hệ thống đẳng cấp cao hay thấp hơn , bên ngoài hơn hay bên trong cũng không xác đáng .
Tôi nói : “ Thưa Thầy , vậy con phải đi đến quyết định như thế nào ? . Con phải giữ vững cấp độ kinh nghiệm nào ? . Con xin Thầy , bậc thầy cao cả chỉ dạy cho con ” . Vị Thầy trả lời : “ Suốt cuộc sinh tử từ vô thủy . Nhưng chưa từng sinh thực sự . Chỉ có hình tướng của sự sinh . Chưa bao giờ có sự chết thực sự mà chỉ có sự chuyển hóa những hiện tượng hình tướng bề ngoài như sự thay đổi từ trạng thái mộng qua trạng thái thức . Mọi cảm giác : Thấy , nghe , ngửi , nếm và những cảm xúc như sắc , thanh , hương , vị , xúc bởi mắt , tai , mũi , lưỡi và da . Tất cả chỉ là sự sinh khởi tự chúng . Những hình tướng tự biểu lộ một cách tự nhiên , không thể có dù chỉ một mảy may hiện hữu nào khác .
Con có thể nghĩ : Có cái gì khác đang hiện hữu một cách độc lập . Vì con có thể trực tiếp thấy bằng mắt . Thực sự nắm nó trong tay hay kinh nghiệm qua những giác quan . Thật ra , dù tất cả sắc , thanh , hương , vị , xúc trong mộng có vẻ hiện hữu như thực trong bối cảnh riêng biệt dựa vào kinh nghiệm khi thức . Chúng vẫn chưa từng hiện hữu và không hiện hữu cách khách quan . Suốt cuộc sinh tử từ vô thủy chưa từng bao giờ có bất kỳ kinh nghiệm thực sự nào về chuyển di hay từ một trạng thái này sang trạng thái khác . Hoặc bất kỳ kinh nghiệm thực sự nào về việc trú ngụ trong nơi chốn nào khác . Tình huống này tương tự những hình ảnh trong một giấc mộng .
Con có thể nghĩ : Sự thật tương đối của các hình ảnh lúc mộng . Không thể bằng sự thật tương đối của những hình tưóng lúc thức . Hãy nghĩ đến mọi kinh nghiệm lúc mộng và kinh nghiệm lúc thức từ lúc sinh ra đến giờ . Những hoạt động , những bận rộn , những nỗ lực , tính toán . . . Hãy xem xét kỹ lưỡng , bất kể lâu hay mau , nhiều hay ít . Con sẽ đi đến kết luận chúng chỉ như nhau . Chưa hết , nếu những hình ảnh lúc mộng không thật và những hình tướng lúc thức là thật . Điều này có nghĩa những hình ảnh lúc mộng là những trạng thái mê lầm còn những kinh nghiệm lúc thức là sáng suốt . Thế thì , phải cho rằng con là một chúng sinh trong những kinh nghiệm mộng và là một vị Phật trong trạng thái thức . Nếu cả hai là những hiện tượng hình tướng có ra từ mê lầm . Như vậy , bất kỳ sự phân biệt nào về sự có thật hay không có thật đều vô nghĩa . Bởi vì câu nói : Những hiện tượng hình tướng có ra từ mê lầm . Hàm ý bám chấp vào những gì không hiện hữu . trong khi nó chỉ xuất hiện và tự tan biến .
Cho tới bây giờ con đã ăn một khối lượng thức ăn bằng núi Tu Di và đã uống một số nước bằng những đại dương vẫn không đầy . Dù con đã từng mặc quần áo đủ để đắp cho tam thiên đại thiên thế giới vẫn không ấm . Con cần hiểu đấy là những chỉ dẫn cho thấy : Không có cái gì có thể được xem là có thật và tất cả chỉ là những hiện tượng hình tướng bề ngoài .
Thật sai lầm lớn lao khi không hiểu : Sự biểu lộ như là thân thể chỉ là trống không lại cho nó là thật có . Sai lầm này là con quỷ nuốt hết sự thật . Bởi lẽ tất cả sức lực cố gắng con làm ra . Thân thể này sẽ ăn sạch quả của toàn giác . Nó là đao phủ sát nhân . Vì cung cấp mối liên kết từ chu kỳ này đến chu kỳ khác trong vòng sinh tử khiến những hình tướng sinh và tử biểu lộ . Nó là kẻ cắt đứt mạch sống giải thoát bằng cách bám giữ tham luyến và ghét bỏ . Đó là những làm tiếp diễn hy vọng và lo sợ . Nó cũng là kẻ trộm hơi thở . Vì nó cướp của con hơi thở của hạnh phúc trường cửu . Thế nên , tất cả những ai bám chấp đối tượng hình tướng sáu trần của thức sẽ như con nai thấy ảo ảnh của nước và đeo đuổi theo . Trong khi không có mảy may hiện hữu nào trong đó .
Thêm nữa , dù con hiểu những sự vật là trống không như vậy . Chúng vẫn y như cũ có vẻ là thật chứ không biến mất . Thế nên , con có thể tự hỏi : Cái hiểu như vậy dùng để làm gì ? . Nếu con không hiểu tánh Không là tinh túy của cái cần trau dồi trong thiền định . Bấy giờ mọi cố gắng trong thiền định chắc chắn không hiệu quả .
Hơn nữa con có thể nghĩ : “ Vì chỉ cái hiểu tri thức hay ý niệm trong tất cả các Pháp thiền quán và thiền định khác không thể mang lại giải thoát . Thế thì tại sao sự chứng ngộ tánh Không làm hiển lộ bản tánh nền tảng của mọi sự là không hiện hữu ? . Nếu những sự vật là trống không từ vô thủy . Người ta biết chúng là không hay không phải không chỉ là điều vô nghĩa ? ” . Tuy nhiên , từ sự khác biệt của nhận thức hay không nhận thức , biết hay không biết sẽ có niết bàn và sinh tử , giải thoát và mê lầm vô minh. Như thế , con phải thấu rõ : Sự hiểu và nhận thức là điểm then chốt .
Ngoài ra , hoặc con chứng ngộ tánh Không do trải qua những khó khăn lớn lao trong tu học . . . Hay con chứng ngộ tánh Không không chút khó khăn nào cũng không gì khác nhau . Chẳng hạn như con tìm thấy vàng bằng cách trải nghiệm khó nhọc lớn lao hay không có chút khó nhọc nào ngay trong giường mình đâu có sự khác biệt nào về phẩm chất của vàng .
Thuật ngữ “ Trí phân biệt ” ám chỉ trí huệ đạt được qua phân tích đưa đến kết luận và quyết định rằng Mọi hiện tượng là tánh Không . Thuật ngữ “ Trí vô ngã ” ám chỉ trí huệ tiếp theo đi cùng sự xác quyết : Sinh tử và Niết bàn là tánh Không tối thượng . Điểm cốt yếu là con trau dồi hai phương diện của trí huệ siêu việt trong dòng tâm thức . Ban đầu như sự chứng ngộ . Sau đó như kinh nghiệm cá nhân . Cuối cùng như sự chứng đắc tin chắc không thối chuyển .
Lại nữa , con có thể phản đối : Không hợp lý khi cho rằng thân thể và thế giới không thể xem là cái gì khác hơn chỉ là những hiện tượng hình tướng bề ngoài . Vì những cá nhân đã chứng ngộ bản tánh Không của thân thể . Họ vẫn cảm thấy đau đớn khi chạm vào lửa hay nước lạnh hay khi bị tên , giáo , gậy . . . đánh vào . Điều này được trả lời bằng sự kiện : Bao giờ con chưa đạt đến trạng thái của hư không căn bản trong đó những hiện tượng tan biến trong thật tánh của thực tại hay pháp tánh ( Dharmata ) . Những hình tướng nhị nguyên vẫn không tiêu mất . Những hình tướng có lợi hay có hại vẫn xảy ra không dứt . Và thực tế , ngay cả lửa của địa ngục vẫn chưa từng cháy ” .
Nói như thế xong ngài tan biến .


Chương V: Thần Linh Và Ma Quỷ Chỉ Là Sự Hóa Hiện Của Tâm Thức

Vào một dịp khác , tôi gặp đại thành tựu giả Saraha trong một thị kiến . Tôi hỏi ngài : “Thưa bậc vĩ đại của những thành tựu giả . Làm sao con có thể tịnh hóa những che chướng ? . Làm sao con có thể chắc chắn là có những thần linh ? . Làm sao con có thể giải thoát khỏi những ma quỷ và chướng ngại ? . Xin ngài từ bi nói cho con nghe những điều này ! ” .
Ngài ban cho sự trả lời sau đây : “ Hỡi người đại căn , con phải chiến thắng những tỳ vết sâu kín về lợi và hại , thiện và ác . Về cái được gọi là những che chướng . Thuật ngữ “ Che chướng ” và “ Không nhận biết tánh giác nội tại ” ( Ma-rig-pa – Vô minh ) ám chỉ việc : Không rõ biết bản tánh nền tảng hiện thể là tánh Không . Và thuật ngữ “ Tập khí ” ( Bag-chag ) . Ám chỉ cố chấp về sự không rõ biết . Những cái ấy không thể xóa sạch bằng những nỗ lực bình thường như thực hành về thân và ngữ . Những che chướng chỉ có thể được tịnh hóa nhờ trí huệ phân biệt để đi đến kết luận kiên quyết về thật tánh của thực tại .
Mọi đức hạnh thiện về thân và ngữ trụ ở đâu ? . Kho chứa được tích tập của chúng ở đâu ? . Khi khảo sát và phân tích nguồn gốc nó đến . Nơi nó trụ và nơi nào nó đi đến . Hãy xem xét thiện nghiệp tích tập như thế nào nếu nó không hiện hữu một cách khách quan . Bằng cách khảo sát thiện nghiệp tích tập như thế nào và ở đâu trong bản tánh trống không của tâm ở ngoài , ở trong hay chặng giữa . Ở đỉnh hay ở bất cứ đâu .
Con sẽ xác định : Nó không hiện hữu một khách quan . Tất cả không gì khác hơn công đức được tích góp trong vòng sinh tử . Tương tự , vô số những ác nghiệp được tích tập ở đâu ? . Kho chứa của chúng ở chỗ nào ? . Hãy khảo sát bất kỳ điều hại nào có thể tác động đến tánh Không của tâm . Nó ở ngoài hay trong, . Trên , dưới hay khoảng giữa .
Nếu khảo sát kỹ lưỡng dòng tâm những người luôn tận tụy và làm những nghiệp thiện về thân và ngữ trong hiện tại . Và những người để cả cuộc đời mình dấn thân vào những ác nghiệp . Con sẽ thấy : Không mảy may khác biệt nào trong tâm thức của hai loại người ấy . Tất cả vẫn lả sự tiếp diễn của ưa và ghét . Hy vọng và sợ hãi . Nếu đạt giải thoát . Giải thoát chỉ vì tâm họ giải thoát . Nếu mê lầm . Mê lầm chỉ vì tâm họ mê lầm .
Nhưng tâm cả hai loại người này chưa giải thoát . Vì thế không có chút gì khác nhau trong tâm sinh tử của họ . Như vậy dù có sự khác biệt tạm thời về hình thức giữa nghiệp tốt và nghiệp xấu . Chúng chỉ phát sinh hạnh phúc hay khổ đau tạm thời . Nhưng cái nào cũng không gì khác hơn sự kéo dài thêm hiện hữu sinh tử
Nếu không đến kết luận quyết định như thế về hạnh tốt . Con sẽ lẫn lộn hai cái : Con đường giải thoát trọn vẹn với đức hạnh tích tập phước đức tạm thời . Như vậy con không thể đạt được mục đích toàn giác . Nếu không đi đến kết luận quyết định về hạnh xấu . Con sẽ không hiểu sự kiện bản tánh chân thật không rỏ biết chính nó . Vì thế đã tạo ra che chướng đó là căn bản vô minh mê lầm . Như thế con không thể nhận ra nguyên nhân của vô minh . Chính vì điều này chỉ kéo dài sự mê lầm đến vô tận trong vòng sinh tử . Con phải hiểu then chốt là đạt đến kết luận quyết định này .
Hơn nữa , khi cái được gọi là : “ Những thần linh giúp đỡ và bảo vệ ” . Được khảo sát đến gốc nguồn ban đầu . Nơi ở và chỗ đến sau cùng của họ . Con sẽ thấy họ không hiện hữu khách quan ở bên ngoài . Những thần linh như hiện hữu trong sắc , thanh , hương , vị , xúc . Nghĩa là những đối tượng của giác quan .
Nếu con nghĩ họ hiện hữu với một trong những nguyên tố ( các đại ) tạo thành thế giới như đồ chứa đựng; và các sự vật chứa trong đó . Con hãy khảo sát những nguyên tố đến cấp độ các nguyên tử và các hạt . Đồng thời con khảo sát những sự gán tên tương ứng và cách thức hiện hữu về mặt chất thể của những nguyên tố .
Do khảo sát kỹ về những thần linh có thể làm lợi như thế nào . Tương tự những ma quỷ có thể làm hại thế nào . Con sẽ hiểu được : Họ không hiện hữu một cách khách quan . Mọi hạnh phúc và khổ đau là những kinh nghiệm phù du về những hiện tượng hình tướng bề ngoài biểu lộ với tâm như những giấc mộng . Không có cái nào xảy ra trên cơ sở có thể định danh là : “ Lợi’ hay hại ” do những thần linh hay ma quỷ .
Nếu con nghĩ những ma quỷ làm hại con . Hãy khảo sát điều hại nào có thể được gây ra bởi sự gán tên “ ma quỷ ” . Vì sự gán tên không có đối tượng thuộc về giác quan sắc , thanh , hương , vị , xúc . Con không thấy cái gì hiện hữu . Tất cả chỉ là sự trống không không hiện hữu một cách khách quan .
Con người dưới ảnh hưởng của mê lầm . Nhìn phần thân trên và phần thân dưới cho là tốt và xấu . Vì phần thân trên có vẻ sạch nên họ nhìn như là thần linh . Phần thân dưới có vẻ không sạch họ nhìn như là ma quỷ . Như vậy , hy vọng và sợ hãi xảy ra không ngừng do sức mạnh trói buộc của vọng tưởng về một thứ gọi là “ Tự ngã ” .
Thế nên , những kinh nghiệm vô thường của hạnh phúc và khổ đau xảy ra không dứt . Tất cả không gì ngoài những kinh nghiệm phù du của vòng sinh tử . Không một mảy may thật có như cái gì khác ngoài mình . Điều này có thể chứng tỏ bằng một thí dụ đơn giản là : Tất cả chỉ là một giấc mộng .

Điểm then chốt ở đây là:

Thấu hiểu cách thế của hiện thể đúng như tạo thành phương tiện để xua tan những chưóng ngại trong thiền định . Mọi chướng ngại hình thành ; bởi thiếu tin chắc chắn sẽ được xua tan . Con sẽ tin chắc nghĩa thật tánh của thực tại và hoàn thành sự tự tin kiên cố không tồn đọng chút nghi ngờ . Khi đã thoát khỏi che chướng vì không nhận biết tánh giác nội tại . Con sẽ làm chủ trò phô diễn vĩ đại và thường trực biến đổi của tánh giác nội tại .
Đây cũng là gốc của những Pháp sâu xa Làm An Bình ( Zhijed ) và Cắt Xuyên Thấu Những Ma Chướng ( Dudkyi Chodyul ) . Con chớ tìm kiếm bất cứ thần linh nào khác ngoài tánh giác nội tại tự nhận biết . Con sẽ đạt đến xác quyết : Không có ma quỷ nào ngoài những tư tưởng lan man .
Trong mọi thực hành Sadhana và nghi thức để tránh những tai họa . Tất nhiên sự hiểu biết này không thể thiếu . Nếu có cái hiểu như vậy , con đích thực là Đại thiền sư của như huyễn . Người chứng ngộ mọi hiện tượng đều là như huyễn .
Hỡi đứa con trong tánh giác nội tại mà tâm đã thanh tịnh . Hãy dạy điều này cho những người đáng giáo hóa . Vì có lẽ họ cũng sẽ trở thành những thiền giả của đường lối tâm linh vĩ đại của bí mật rốt ráo ” . Nói như thế xong ngài biến mất khỏi tầm nhìn .


Chương VI: Thực Tại Vốn Lìa Các Hình Tướng

Vào dịp khác tôi gặp Vajrapani vĩ đại và vinh quang trong thị kiến và tôi trải nghiệm thanh tịnh sáng tỏ toàn triệt . Tôi hỏi ngài : “ Thưa bậc chiến thắng , bậc cầm giữ Kim cương vĩ đại . Có phải Phật quả là nhận ra bậc giác ngộ trong hoàn cảnh tức thời . Hay có nơi nào khác để trở thành giác ngộ ? ” . Ngài ban sự trả lời sau đây :
“ Hỡi đứa con phước đức của dòng tộc vinh hiển . Có lẽ con nghĩ danh từ “ Phật ” hiện hữu như một nhân vật uy nghi , đẹp đẽ , ưa nhìn . An hoà , dịu dàng , tinh tế , hoàn thiện và đáng yêu . Một người ngắm nhìn không biết chán ; đang sống trong xứ sở rộng lớn vĩ đại . Nếu thế, thì ai là cha mẹ của những vị Phật như vậy ? . Nếu do những bà mẹ sinh ra . Các ngài phải chịu giới hạn của sự thường còn . Nếu chết , các ngài phải chịu giới hạn của giả ảo , không thực theo nghĩa hư vô .
Tóm lại , chừng nào một bản chất được xem là tự nó hiện hữu như thật trong ba giai đoạn : Phát sinh , kéo dài và diệt mất . Chắc chắn không thể có một bản tánh thực tại thoát khỏi những cực biên nhị nguyên. Những hiện tượng hình tướng bề ngoài . Cho dù xuất hiện như thế nào . Nó cũng biểu lộ như có sinh ra và diệt mất . Sự kiện đó không gì khác hơn những ý niệm được gán ghép .
Hơn nữa , nếu con chờ đợi cái gì thanh tịnh và hoàn toàn tinh ròng và xem là thật . Có nghĩa con đã tự ràng buộc mình. Nếu có sự khác biệt nào giữa thật tánh Sinh tử và thật tánh Niết bàn . Bấy giờ nói đến “ Bản tánh thực tại là tánh bình đẳng của Sinh tử và Niết bàn ” . Rốt cuộc chỉ là chuyện ngoài môi .
Thật vậy , nhiều người chấp vào Niết bàn . Xem như có những đặc tính cố định nội tại . Tức khắc bị rơi vào bẫy của hy vọng và lo sợ . Có rất nhiều cách để diễn tả về những kinh nghiệm được hưởng thọ trong các cõi thanh tịnh . Nhưng nếu bám vào những chi tiết đặc biệt này và xem chúng là những thực thể có thật . Và xem nó có những đặc tính cố định nội tại . Có nghĩa con vẫn còn vọng tưởng và cho những hiện tượng có tự tánh .
Dù chúng ta gán tên cho nó là gì . Quan kiến cho Như Lai là cái gì đó thuôc về trường cửu và có thật . Chắc chắn không thể siêu vượt quan kiến tự ngã cá nhân là có thật . Nếu con nghĩ : Một vị Phật có hai mắt . Có nghĩa ngài phải có nhãn thức . Một khi đã có nhãn thức . Tất nhiên sự xuất hiện những hiện tượng như sắc không thể tránh khỏi . Những cái này được gọi là : “ Cực đối tượng của nhìn thấy ” và “ Những đối tượng của giác quan ” .
Khi những đối tượng được thiết lập . Tất nhiên không thể tránh khỏi suy nghĩ ý niệm vi tế của tâm bình thường ; và nó sẽ góp phần kéo dài về sắc của mắt . Điều này được gọi là : “ Cực chủ thể của nhìn thấy ” và “ Tâm bình thường ” ( Sem ) . Tính nhị nguyên của ý niệm về đối tượng và chủ thể được gọi là “ Tâm bình thường ” . Như thế , bất cứ cái gì có tâm bình thường sẽ được gọi là “ Chúng sinh ” .

Cùng cách đó , nếu con nghĩ :

“ Vị Phật có tai .

Thế thì ngài cũng phải có nhĩ thức ;

Với những cảm giác về âm thanh tương ứng .

Nếu con nghĩ :

Vị Phật có mũi .

Thế thì ngài cũng phải có tỷ thức ;

Với những cảm giác về mùi tương ứng .

Nếu con nghĩ :

Vị Phật có lưỡi .

Thế thì ngài cũng phải có thiệt thức ;

Với những cảm giác về vị tương ứng.

Nếu con nghĩ :

Vị Phật có thân ,

Thế thì cũng phải có thân thức ;

Với những cảm giác về xúc tương ứng ” .

Những cái này bao gồm những cực đối tượng của tri giác cho những từng loại thức . Những khuôn khổ tư tưởng và ý niệm sẽ góp phần cho sự kéo dài của chúng tạo thành tâm bình thường . Có nghĩa : Những cực chủ thể của tri giác cho từng loại thức . Như đã nói . Cái gì có tâm bình thường sẽ được gọi là chúng sinh.
Về cái chúng ta gọi là “ Phật ” . Nếu có trạng thái Phật quả không siêu vượt khỏi những tri giác nhị nguyên về đối tượng và chủ thể . Bấy giờ những phẩm tính tốt của trạng thái được gọi là “ Phật ” . Có thể chuyển thành chúng sinh cũng như những phẩm tính bình thường chuyển từ người nọ sang người khác .
Con có thể nghĩ : Chư Phật giáo hóa những người khác . Nhưng nếu chư Phật tự nghĩ những vị thầy và những giáo pháp là cái để dạy . Và chúng sinh là những người nhận giáo pháp . Thế thì , đâu có gì khác biệt giữa chư Phật và chúng sinh bình thường . Cho dù chỉ nhỏ bằng hạt mè .
Nếu thế các ngài cũng là chúng sinh ! . Nếu con nghĩ những phẩm tính độc nhất của một vị Phật là : Có một cõi lạc phúc , có tướng tốt với hội chúng tuyệt hảo . Mọi thứ được trang hoàng bằng các châu báu và sống hạnh phúc lớn lao . Không sân hận , tham lam . Có nghĩa con vẫn còn trong sự hình dung của chúng sinh . Không đáng ca ngợi hơn những vị trời trong cõi sắc .
Trong ý nghĩa rốt ráo . Nền tảng hiện thể sẵn có của con lại chính là đức Samantabhadra ( Phổ Hiền ) trọn hảo . Cũng là “ Bậc an lạc đi trong cả ba thời ” . Trong sự thật tối hậu , một đức Phật không kinh nghiệm sự đi đến thế gian hay thuyết pháp . Nhiều bộ Tantra , luận và giáo huấn trao truyền trực tiếp ; đã nói rõ ràng cách hình tướng của vị thầy tự biểu lộ ; và xuất hiện cho một cá nhân cần được giáo hóa . Vậy hãy khảo sát chúng và thấu hiểu điểm này .
Thêm nữa , quả thật vô lý khi nghĩ rằng : Những trạng thái hiện hữu tách biệt trong vòng sinh tử lại được xem là thật có . Và chúng sinh lần lượt lao vào để trải nghiệm vui thú và đau khổ . Nếu hình tướng thân thể , dung để tâm thức làm việc trong đời trước . Giờ đã bỏ đi như đồ thải lại có thực . Thế thì làm sao lại có thân trung ấm giữa cái chết và tái sinh ? .
Nếu thân trong đời này có thể chết vì những vết thương , bỏng hay vì ngọn gió lạnh . Thế thì làm sao thân được tạo thành trong địa ngục lại có thể trải nghiệm nóng , lạnh . Bị nấu đốt mà không chết ? . Tương tự , nếu chúng ta có thể chết vì đói trong vài tháng hay thậm chí vài ngày . Thế thì tại sao những chúng sinh quỷ đói không chết vì đói khát trong hàng kiếp ? .
Như vậy , chúng sinh trong sáu cõi cũng như chúng sinh trong trạng thái trung ấm . Tất cả đều mê lầm vì bám chấp và cho những hiện tượng hình tướng là thật . Thật sự , chúng chỉ như những hình ảnh trong mộng . Không gì khác hơn là những sự xuất hiện hình tướng trống không . Không thể hiện hữu khách quan. Như thế , nếu con đi đến quyết định để kết luận : Những hiện tượng hình tướng sinh khởi từ mê lầm và chứng ngộ rằng chúng vô tự tánh . Con sẽ nạo vét hết những chiều sâu của sinh tử luân hồi . Bằng cách xác quyết Phật quả không gì khác hơn nền tảng bổn nhiên của chính con . Khi đã có được sự tự tin này bên trong . Có nghĩa con thực sự đạt được cái gọi là : “ Sự giải thoát tự nhiên vốn có của chư Phật ” .
Hỡi bậc uy quyền của hư không . Kim cương hiện diện khắp tất cả . Con phải quyết định để kết luận rằng: “ Không có hiện tượng nào của Sinh tử và Niết bàn là hiện hữu . Sự thật tất cả đều trống không và con quyết định phải chứng ngộ bản tánh của sự không hiện hữu ” .
Nói thế, ngài biến mất khỏi tầm nhìn.


Chương VII: Chuyển Sinh Tử Và Niết Bàn Trở Về Cùng Nền Tảng

Sau một thời gian dài , tôi đi đến quyết định để kết luận về sự không hiện hữu . Tuy nhiên , dù đã hiểu mọi hiện tượng hình tướng trong thế giới là trống không . Nhưng vẫn còn nhiều phần nhánh của tánh Không vẫn có vẻ như vô ký . Vào lúc đó , tôi gặp Dorje Drolod tối thượng cao cả trong một thị kiến . Ngài đang tụng chữ “ Hum ” phát lộ sinh tử và Niết bàn cũng là sự phô diễn của tánh Không .
Lúc đó tôi nói : “ Thưa bổn tôn đặc biệt của con, bậc trọn hảo và tối thượng ! . Về mặt trí thức con hiểu Sinh tử và Niết bàn là tánh Không . Nhưng tánh Không này vẫn vô ký . Vì nó không lợi lạc không tác hại. Như vậy là sao ? ” . Bổn tôn trả lời :

“ Hỡi người có đạo tâm ;

Chúa tể của hư không .

Hãy chuyển tất cả Sinh tử và Niết bàn về tánh Không ;

Hãy chuyển tánh Không về bản tánh của mình .

Hãy chuyển bản tánh nhất như của mình về nền tảng của hiện thể ;

Hãy chuyển Sinh tử và Niết bàn thành trò phô diễn của nền tảng .

Hãy chuyển Sinh tử và Niết bàn là một ;

Về nền tảng nhất như của hiện thể ! .

Những phản chiếu của tinh tú trong đại dương là trò phô diễn của đại dương ;

Hư không là thai tạng của thế giới như đồ chứa đựng và những cái chứa đựng .

Thật tánh của thực tại xuyên thấm và trải rộng trùm khắp sanh tử và niết bàn ;

Hãy hiểu bản chất của những thí dụ và những gì chúng hiển nghĩa .

Như thế ,

Con sẽ trở thành một thiền giả trùm khắp toàn bộ Sinh tử và Niết bàn ” .

Với những lời này, ngài biến mất.


Chương VIII: Những Hình Tướng Xuất Hiện Như Thế Nào

Bảy năm sau trong giấc mộng thanh tịnh . Tôi gặp vị Thầy pháp thân Vajradhara . Vào dịp ấy tôi hỏi ngài: “ Thưa Thầy , bậc chiến thắng thành tựu siêu việt . Làm thế nào con tự do trên con đường giải thoát và toàn giác Và làm thế nào con bị mê lầm trên con đường sinh tử ? . Xin thầy chỉ dạy cho con điều này”. Trước sự cầu xin của tôi, ngài ban sự trả lời sau :
“Hãy nghe đây người đại căn . Hai trạng thái đối nghịch : Trạng thái Phật và trạng thái chúng sinh . Điều do nhận biết hay không nhận biết tánh giác vốn sẵn . Nền tảng của hiện thể của mình – Bậc hộ trì Samantabhadra bổn nguyên sẵn có trong bốn thân và năm trí huệ nguyên sơ .

Bản tánh tinh túy như là tánh Không của nó ;

Chính là Pháp thân .

Bản tánh cố hữu như sáng tỏ của nó ;

Chính là Báo thân .

Sự đáp ứng bi mẫn bẩm sinh giải thoát tự nhiên của nó ;

Chính là Hóa thân ,

Tánh toàn khắp và trải rộng suốt trọn Sinh tử – Niết bàn ;

Chính là Tự tánh thân .

Vì sự rỗng rang của tất cả hiện tượng ;

Sẵn có Trí huệ nguyên sơ của pháp giới .

( Pháp giới thể tánh trí )

Làm hư không căn bản của những hiện tượng .

Vì sự sáng tỏ vi tế của chúng thoát khỏi những yếu tố làm ô nhiễm ;

Sẵn có trí huệ nguyên sơ như tấm gương .

( Đại viên cảnh trí ) .

Vì Sinh tử và Niết bàn ;

Là sự phô diễn của tánh thanh tịnh bình đẳng .

( Bình đẳng tánh trí ) .

Vì sự thông suốt không ngừng của trí huệ nguyên sơ ;

Rõ biết bản tánh của những sự vật và tri giác trong sự đa thù khác biệt ;

Sẵn có trí huệ nguyên sơ phân biệt

( Diệu quan sát trí ) .

Vì tất cả cái gì phải làm đều được hoàn thành ;

Qua sự giải thoát và thanh tịnh của tất cả các hiện tượng ,

Sẵn có trí huệ nguyên sơ thành tựu tất cả

( Thành sở tác trí ) .

Như vậy , con đường giải thoát trong Phật quả vốn tự hiện hữu . Có nghĩa : Tự hiển lộ tánh giác hay trí huệ vốn sẵn như bản thể của bốn thân và năm trí huệ nguyên sơ . Bản tánh tánh giác vốn sẵn thấm nhập và trải rộng khắp tất cả hư không . Nhưng không hề hiện hữu như là đối tượng .
Nó hoàn toàn tự do và rỗng rang . Bao trùm khắp một cách tối thượng . Một sự phô diễn không nền tảng và không chỗ trụ . Vì không tạo tác nên nó là Pháp thân . Do bản tánh là sự sáng tỏ vốn sẵn nên nó là Báo thân . Do sự thông suốt ; không ngừng biểu lộ tính sáng tỏ của trí huệ nguyên sơ nên nó là Hóa thân . Và do nó là nền tảng chung của Sinh tử và Niết bàn nên nó là Tự tánh thân .
Khi đã đạt đến kết luận quyết định về nền tảng của hiện thể . Trí huệ nguyên sơ của Pháp giới là : Sự chứng ngộ sự kiện Sinh tử và Niết bàn một vị trong hư không căn bản của thật tánh . Tánh Không không phải sự trống rỗng mà là sự sáng tỏ vi tế . Không có những yếu tố ô nhiễm . Nó như tấm gương trong sáng và tinh sạch . Trong đó tất cả mọi sự đều có thể sinh khởi . Đây chính là : Trí huệ nguyên sơ như tấm gương .
Trí huệ nguyên sơ của tính bình đẳng là : Thấu hiểu sự kiện Sinh tử và Niết bàn bình đẳng thanh tịnh trong tánh Không tối thượng . Trí huệ nguyên sơ phân biệt ám chỉ sự thông suốt không dứt – Sự sáng tỏ của chức năng phân biệt của trí huệ nguyên sơ tự biểu hiện như là năng lực của tánh giác vốn sẵn . Vì những hoạt động đều thành tựu tự nhiên nhờ sự làm chủ tánh giác vốn sẵn có trí huệ nguyên sơ thành tựu tất cả.
Nhiều người không thể hiểu cách hiện hữu của tánh giác đúng như nó là . . . Thay vào đó lại làm cho con đường trở thành trạng thái tỉnh giác thụ động . Vì không thể phân biệt được tâm bình thường với tánh giác vốn sẵn .
Bên ngoài họ tri giác những hiện tượng hình tướng là có bản chất . Riêng về mặt nghiệp báo là những thực thể trung tính vô ký có những đặc tính ( tướng ) rốt ráo nhất định . Bên trong bị buộc chặt bởi quan niệm thân thể như những thực thể có bản chất . Riêng về mặt nghiệp báo được xem là trung tính và thường còn .
Họ có thể thành tựu được sự trải nghiệm nghiệm vững chắc với hai cực bên ngoài và bên trong . Nhưng trải nghiệm này chỉ là trạng thái tâm thức không ngăn ngại , sáng tỏ và rõ biết . Cho dù có một ít khả năng. Nhưng chỉ có thể tạo ra công đức thúc đẩy họ đến hai cõi cao hơn là : Sắc giới và Vô sắc giới . Chắc chắn không thể đạt đến giải thoát và toàn giác . Thế nên đây là đường lối đầy khuyết điểm .
Từ ngữ “ Trí huệ siêu việt rõ biết thật tánh những sự vật đúng như nó là . . . ” . Ám chỉ đã hiểu rõ sự kiện: “ Tất cả hiện tượng trong Sinh tử và Niết bàn là một vị trong bối cảnh tánh như ” . Tánh như này là thật tánh của thực tại .
Từ ngữ : “ Trí huệ siêu việt rõ biết những sự vật trong sự đa thù khác biệt ” . Ám chỉ sự kiện : “ Khi đã trụ trong tánh giác vốn sẵn . Những sự thông suốt không ngăn ngại của tánh giác rõ biết tất cả hay nhận thức tất cả tự chúng vẫn có mặt ” . Những sự thông suốt này không hề bị ngăn ngại . Nên chúng không bị vướng mắc bởi những đối tượng . Giống như giọt thủy ngân rơi trên mặt đất vẫn giử nguyên dạng .
Trong khi : Tâm bình thường nhìn thấy Sinh tử và Niết bàn biệt lập và tri giác những hiện tượng hình tướng là những thực thể có bản chất . Như thế sẽ làm mất tỉnh giác bản tánh của nền tảng hiện thể . Do đó sự động tâm sẽ sinh và diệt . Thế nên bị ràng buộc trong những đối tượng của giác quan . Giống như giọt nước rơi trên mặt đất khô .
Khi khuôn mặt thật của phương diện nền tảng của Phật quả – Trạng thái của sự thanh tịnh làm chủ nền tảng hiện thể . Bị che chướng bởi không nhận biết ( Vô minh ) thân và Trí huệ nguyên sơ . Vốn được tạo thành từ ánh sáng tĩnh lặng bẩm sinh bên trong nền tảng của hiện thể . Do đó sẽ suy giảm thành : Ánh sáng tĩnh lặng bên trong tỏa chiếu ra ngoài của . Từ đó hiễn bày như sự phô diễn của năm nguyên tố ( đại) toả chiếu thành màu sắc theo cách sau đây :
Khi Trí Huệ Nguyên Sơ Của Pháp Giới – Hư Không Căn Bản Của Những Hiện Tượng bị che chướng và giảm thiều thành : Ánh sáng tỉnh lặng bên trong . Bởi không nhận biết ( Vô minh ) . Như thế sự tỏa chiếu ra ngoài sẽ biểu lộ thành : Ánh sáng xanh đậm . Được gọi là : “ Nguyên tố bên trong ” hay “ Nguyên tố chính ” . Sự tỏa chiếu này bị vọng tưởng như có bản chất và bám trụ vào cho là thật có trong khi nó biểu lộ như hư không được gọi là : “ Nguyên tố bên ngoài ” , “ Nguyên tố phụ ” hay “ Sự lóng cặn ” .
Khi Trí Huệ Nguyên Sơ Như Tấm Gương bị che chướng . Bởi không nhận biết và giảm thành : Ánh sáng tĩnh lặng bên trong . Sự tỏa chiếu ra ngoài được biểu lộ thành : Ánh sáng trắng . Đó là tinh túy vi tế của nước hay : “ Nguyên tố chính ” hay “ Nguyên tố bên trong ” . Sự tỏa chiếu này bị vọng tưởng như có bản chất và bám trụ vào cho là thật có trong khi nó biểu lộ như nước . Như thế được gọi là : “ Sự lóng cặn – “ Nguyên tố phụ ” hoặc “ Nguyên tố bên ngoài ” .
Khi Trí Huệ Nguyên Sơ Của Tánh Bình Đẳng bị che chướng . Bởi không nhận biết , nên giảm thiểu thành: Ánh sáng tĩnh lặng bên trong . Sự tỏa chiếu hướng ra ngoài biểu lộ thành Ánh sáng vàng . Đó là tinh túy vi tế của đất hay “ Nguyên tố chính ” hoặc “ Nguyên tố bên trong ” . Sự tỏa chiếu này được vọng tưởng như có bản chất và bám trụ vào cho là thật có trong khi nó biểu lộ như đất . Như thế được gọi là : “ Sự lóng cặn hay “ Nguyên tố phụ ” hoặc “ Nguyên tố bên ngoài ” .
Khi Trí Huệ Nguyên Sơ Thành Tựu Tất Cả bị che chướng . Bởi không nhận biết . nên giảm thiểu thành: Ánh sáng tĩnh lặng bên trong . Sự tỏa chiếu ra ngoài biểu lộ thành : Ánh sáng xanh lục . Đó là tinh túy vi tế của gió hay “ Nguyên tố chính” hoặc “ Nguyên tố bên trong ” . Sự tỏa chiếu đưọc vọng tưởng như có bản chất và bám trụ vào cho là thật có trong khi nó biểu lộ như gió . Như thế được gọi là : “ Sự lóng cặn ” hay “ Nguyên tố phụ ” hoặc “ Nguyên tố bên ngoài ” .
Do những tỏa chiếu hướng ra ngoài này vốn bẩm sinh . Nên những hiện tượng hình tướng nhiều màu sắc và năm nguyên tố biểu lộ không dứt . Sau đây là bàn luận về : Sự sinh khởi như năng lực căn bản mê lầm chứa trong năm loại này :
Sự che chướng nền tảng của hiện thể bởi không nhận biết tánh giác vốn sẵn . Chắc chắn đó là : Nền tảng của mọi kinh nghiệm bình thường ( Kun-zhi ) . Một sự trống không trì trệ vô ký như không gian trống rỗng . Trong đó không có tư tưởng nào xuất hiện và không có hiện tượng hình tướng nào được biểu lộ. Giống như trạng thái ngủ sâu và vô thức . Chìm đắm trong trạng thái này là bản chất của Vô minh – Trò phô diễn lớn lao làm biến đổi sự không nhận biết về tánh giác vốn sẵn .
Từ trạng thái này , năng lực của biệt nghiệp được đánh thức . Đó chính là bản chất của đố kỵ . Sự vận hành này làm phương diện của sự sáng tỏ được khởi lên từ tánh Không . Phương diện này là : Thức nền tảng của mọi kinh nghiệm bình thường ( A lại da ) tạo thành sự bám trụ vào sân hận .
Từ “ A lại da thức ” tạo ra “ Mạt na thức ” – Sự phát triển vọng tưởng “ Bản ngã ” , làm xuất hiện “ Tự ngã” tạo thành sự bám trụ vào kiêu hãnh . Từ “ Mạt na thức ” tạo ra “ Ý thức ” lập thành tiềm năng cho những hiện tượng hình tướng sinh khởi từ nền tảng của trống không trì trệ và vô ký .
Như vậy phương diện của sự sáng tỏ được phát lộ . Được tạo thành và bám trụ vào bản chất tham muốn và bám luyến . Tất cả làm Năm bản chất ( năm độc ) sinh khởi – Năng lực hướng ra ngoài từ ánh sáng tĩnh lặng bên trong . Bản chất của năm độc như ngọn lửa khuôn khổ tư tưởng làm những phiền não bay ra như tàn lửa .
Cũng theo các này , những hiện tượng hình tướng xuất hiện trong môi trường được đối tượng hóa . Môi trường này ở trong phương diện sáng tỏ và trống không . Sự tương hợp nền tảng của mọi kinh nghiệm bình thường này và thức . Yếu tố duyên làm kích động năng lực vi tế của nghiệp . Trong khi yếu tố nhân làm nền tảng của kinh nghiệm với tiềm năng cho phép những sự vật sinh khởi .
Với sự hòa hợp hai yếu tố nhân và duyên . Vô số hiện tượng hình tướng được biểu lộ thấy được như sắc . Khởi lên theo cách nương dựa vào nền tảng của hiện thể gắn liền với nó . Vì chúng không gì khác hơn là bản thân nền tảng . Môi trường đối tượng hóa tnhững sắc hình tướng thấy được . Thường diễn tả theo quy ước của “ Nhãn thức” .
Thế nên , thuật ngữ “ Môi trường đối tượng hóa ” hàm ý trong đó những hiện tượng hình tướng hiển lộ có thể ví như đại dương . Thuật ngữ “ Ý niệm hóa đối tượng ” ám chỉ những hiện tượng hình tướng biểu lộ như sắc thấy được như sự phản chiếu của trăng trên mặt nước phẳng lặng .
Hơn nữa , khi yếu tố chủ quan vi tế của ý thức gán tên cho những sắc tướng và cho chúng ý nghĩa . Từ đó xem chúng là những thực thể có bản chất . Nên , rơi vào ý niệm hóa về chủ thể cùng với những tư tưởng lan man . Kéo dài ba tri giác thuộc mắt như : Vui , khổ và trung tính . Những vấn đề này được gọi là “ Tâm bình thường như ý niệm hóa chủ quan thuộc cái thấy ” .
Tương tự , thuật ngữ “ Tỷ thức ” hàm ý sự khởi lên từ những hiện tượng hình tướng như mùi hương . . . Thuật ngữ “ Thiệt thức ” là sự khởi lên từ những hiện tượng hình tướn như là vị . “ Thân thức ” là sự khởi lên của những hình tướng hiện tượng như những cảm giác xúc chạm . Cho dù diễn tả bằng những thuật ngữ quy ước . “ Thức ” không thể biểu lộ qua cửa riêng biệt nào của thân như chứng tỏ như sự kiện : Những hiện tượng hình tướng sẽ được biểu lộ trong những giấc mộng và trung ấm .
Một số người chủ trương những hiện tượng hình tướng đều là tâm . Họ tự hỏi : “ Không biết mọi hiện tượng hình tướng bên ngoài . Thực sự có phải là những tư tưởng lan man và là tâm của họ chăng ” . Sự thật không phải như vậy . Vì điều này được chứng tỏ bởi sự kiện :
Khi những hiện tượng hình tướng thay đổi trong khoảnh khắc biểu lộ và diệt mất trong khoảnh khắc sau đó . Nhưng tâm bình thường không nhận thức được bản chất thoáng qua của những hiện tượng . Vì thế không thật có như tâm cũng không thật có .
Qua sự tiếp diễn thông thường của những hiện tượng hình tướng theo cách này với tám thức và ngũ uẩn. Toàn bộ vòng sinh tử tự khởi lên bằng cách đi ngược tiến trình và quay trở lại thức nền tảng của mọi kinh nghiệm bình thường . Có nghĩa vẫn mắc cạn trên đỉnh cao của đời sống hữu vi .
Như vậy , thế giới mọi hình tướng xuất hiện có thể có toàn bộ Sinh tử và Niết bàn . Không gì khác hơn bản chất nền tảng của hiện thể cùng một vị với nền tảng . Thí dụ : Vô số tinh tú phản chiếu trong đại dương cũng cùng một vị với nước . Hãy hiểu mọi sự đều giống như vậy . Vì tất cả mọi hiện tượng hình tướng vốn là sự xuất hiện tự-biểu-lộ . Đó là sự chỉ bày về giáo huấn trao truyền trực tiếp của Vajradhara .
Nói xong ngài biến khỏi tầm nhìn .


Chương IX: Không – Vô Tướng – Vô Nguyện

Lại dịp khác, tôi gặp người nắm giữ Tánh Giác Vốn Sẵn – Hungchhenkara Vĩ Đại trong một thị kiến . Tôi hỏi : “ Sự phô bày của những hiện tượng hình tướng này giống như cái gì ? ” ; và ngài ban cho sự trả lời sau đây :
“ Hỡi người đại căn , thức của năm thông lộ giác quan giống như hư không . Trong đó mọi sự đều có khả năng khởi lộ . Nên tư tưởng lan man trôi dạt giống như những chất liệu và thần chú do nhà ảo thuật sử dụng . Vì thế ; sự phô bày của những hiện tượng hình tướng biểu lộ từ sự hòa hợp cả hai giống như ảo ảnh huyễn thuật . Và thức kéo dài sự việc này giống như khác giả .
Tất cả sự việc đều như vậy . Vì mọi chất liệu dùng để lập thành chỉ giống những chất liệu được dùng trong huyễn thuật . Vì thế ; đường lối của Yoga Như Huyễn dùng những thần chú tịnh hóa để tinh lọc những chất liệu này thành tánh Không . Và những thần chú gia tăng chỉ dùng để tạo ra sự xuất hiện vô số hình tướng làm thích thú giác quan . Nên chúng trở thành những đối tượng của sáu giác quan làm cho tất cả những người trông thấy những trò chơi này thêm thú vị .
Hơn nữa , trong Yoga như huyễn . Người ta sẽ thiết lập môi trường đối tượng khách quan như thành phố của Càn Thát Bà . Với mục đích tạo ra những việc để giải thoát và giáo hoá chúng sinh như biến đổi nội dung của một giấc mộng . Vậy có được sự làm chủ Yoga Tối Thượng Của Huyễn . Vì thế , hãy xem xét sự kiện : Cho dù có bao nhiêu tinh tú phản chiếu trong một hồ nước . Những sự phản chiếu đều bao gồm trong nước .
Cho nên , bất kể bao nhiêu thế giới như những đồ chứa đựng và những thứ được chứa đựng . Đều bao gồm trong hư không duy nhất . Nên bất kể những hiện tượng hình tướng của Sinh tử và Niết bàn bao la và nhiều đến bao nhiêu . Đều bao gồm trong thật tánh duy nhất của tâm.
Bản tánh của tâm được nói đến như là Phật tánh . Chính là sự tỏa khắp đồng nhất mà không chút nhiễm ô bởi những khuyết điểm . Chẳng hạn , cho dù chư Phật đầy khắp hư không . Vẫn có sự tỏa khắp đồng nhất . Vì trong đó không có cái gì hiện hữu để được lợi lạc từ trí huệ nguyên sơ và những phẩm tính tuyệt vời của các ngài . Cho nên chúng sinh đầy cả không gian và mỗi chúng sinh với một dòng tâm thức biệt lập . Vẫn hiện diện sự tỏa khắp đồng nhất . Trong đó không có cái gì hiện hữu bị ngăn ngại .
Phương diện nền tảng của Pháp thân như là Phật tánh không có chỗ trụ . Không có một vật hay tác nhân nào phát sinh . Như vậy không có giới hạn của sự sinh . Vượt khỏi thời gian hay tác nhân nào có thể diệt. Có nghĩa không bị giới hạn của hủy diệt . Vì không rơi vào cực biên hiện hữu như thực thể có bản chất nào . Nên mắt của bậc chiến thắng cũng không thể thấy . Nên không rơi vào giới hạn của thường còn .
Vì không rơi vào cực biên không hiện hữu tạo thành nền tảng chung của Sinh tử và Niết bàn . Nên không bị giới hạn vào đoạn diệt . Vì vượt khỏi mọi chỗ trú , mọi vật thể hay tác nhân của đi . Nên không bị giới hạn của đi . Vì không chỗ trụ . Không có một vật hay tác nhân nào có thể đưọc xem là hiện hữu . Nên không bị giới hạn của đến . Vì mọi hiện tượng của Sinh tử và Niết bàn khởi lên riêng biệt ; và cá thể ở trong cõi giới bao la nền tảng của hiện thể hay Phật tánh . Như những tinh tú phản chiếu trong hồ . Nên không bị giới hạn của bản sắc .
Vì những cách thức của Sinh tử và Niết bàn khởi lên như thế nào cũng cùng một vị với nền tảng của hiện thể hay Phật tánh . Như những tinh tú phản chiếu trong đại dương . Nên không là gì khác hơn đại dương và không có giới hạn của sự tách biệt. . Vì không rơi vào cái nào trong tám cực biên giới hạn tạo tác ý niệm . Nên sự tỏa khắp không nhiễm ô bởi những khuyết điểm vẫn thường trụ .
Hơn nữa , nó là sự trống không . Trong đó không trên không dưới, không phương không hướng, không dứt đoạn hay tương tục thời gian. Nó trống không trong đó nó hoàn toàn tỏa khắp và hoàn toàn trải khắp. Cũng có tánh không bên ngoài . Trong đó không có hiện tượng bên ngoài được xem là thật , có bản chất hay hình tướng .
Lại có tánh không bên trong . Trong đó tự tâm bên trong vượt khỏi mọi nền tảng hay tự vào căn cứ nào . Cũng có tánh không chặng giữa – “ Trung đạo ” hay Sự Tỏa Khắp Tối Thượng . Trong đó giữa ngoài và trong . Không có sự phân biệt tạo thành những ý niệm nhị nguyên về đối tượng và chủ thể . Đây chính là tánh Không mở cửa vào giải thoát ..
Phương diện nền tảng của Pháp thân hay Phật tánh . Rốt ráo không có tướng tính cách xác định . Nên không thể diễn tả bằng lời nói . Vì vượt khỏi ước lượng của thí dụ và vắng bặt bất cứ vị trí như một thực thể có thể được chứng tỏ . Đây chính là Vô tướng rốt ráo . Cánh cửa khác của sự giải thoát .
Khi xem thật tánh của thực tại hay Phật tánh là sự “ Đạt Đến Trạng Thái Phúc Lạc phúc Cả Ba Thời ” . Lại cho rằng : Mục đích chính là đạt giải thoát trong nơi chốn nào đó hay cõi giới nào khác và đến đó chỉ cần thực hành đức hạnh về thân và ngữ . Như thế là cho rằng : Cảnh giới tỏa khắp trải rộng của hư không là đối tượng hay một tác nhân có đi có đến . Đó là trạng thái tâm thức cực kỳ mờ rối và mê lầm ! .
Như vậy con đường là gì ? . Thật ra chỉ cần không dời đổi vị trí đích thật trong thật trạng hiện tiền . Và chứng ngộ là gì ? . Đó là thấu hiểu trực tiếp thật tánh là bản tánh của thực tại . Giải thoát là gì ? . Chính là thức tỉnh cái vốn đã giác ngộ trong bản tánh .
Ngoài ra nếu nỗ lực theo cách khác để vọng tưởng giải thoát là cái gì khác hơn nữa . Đó là mê lầm . Vì trong thực tại tối hậu . Không có cái gì hiện hữu làm nền khởi tưởng cho dù nhỏ nhất về mục đích vắng mặt sự khởi tưởng : Vô tác hay Vô nguyện ; một cánh cửa khác để đi vào giải thoát .
Hỡi chàng trẻ tuổi, chúa tể của tánh giác vốn sẵn . Con sẽ không được giải thoát nếu chỉ biết lắng nghe ta giải thích những điều này . Thế nên , phải biết khảo sát và phân tích những điều ta đã nêu ra . Và hãy đi vào sự trải nghiệm trực tiếp khởi lên từ những chiều sâu của hiện thể , và hãy làm vững chắc cái thấu hiểu và trí huệ của con . Con cũng nên trao truyền lại cho những người phước đức đáng được thọ nhận. Chớ nghi ngờ dòng tâm giác ngộ của ta truyền và phải lại cho từng cá nhân . Sau đó khuyên họ nên thực hành nhất tâm . Chắc chắn không bao lâu sẽ đạt được giải thoát ” .
Nói xong ngài biến mất khỏi tầm nhìn .


Chương X: Tánh Giác Và Sự Biểu Lộ

Vào dịp khác , trong kinh nghiệm thiền định về sự sáng tỏ toàn triệt . Tôi gặp Manjushri Vadisimha ( Văn Thù Sư Lợi – Sư Tử của Ngữ ) và hỏi ngài như sau :
“Hỡi bậc Thầy, bậc che chở thế giới . Con đã đến quyết định căn bản này đúng như là : Mọi hiện tượng hình tướng của thế giới như đồ chứa đựng . Và những vật được chứa không gì khác hơn là những xuất hiện hình tướng vốn tự biểu lộ . Nhưng xin ngài chỉ cho con những tên riêng và những cõi tịnh của tất cả chư Phật . Có thể hay không thể được xem như những đối tượng độc lập và sự độc lập đó như thế nào ” . Theo sự cầu xin , vị thầy ban cho sự trả lời sau đây :
“Hãy nghe , hỡi người đại căn . Những phẩm tính hiện diện tự nhiên quý báu là : Ánh sáng tĩnh lặng bên trong của phương diện nền tảng của Pháp thân và Phật tánh . Như căn cứ những cõi tịnh của chư Phật . Những bổn tôn nam nữ và vô số cung điện , tự biểu hiện toàn thiện như những thuộc tính tự nhiên nền tảng của hiện thể . Đây là nguyên lý của trí huệ siêu việt ( Bát nhã ba la mật ) .
Sự trình bày của chúng như : Những sự vật có thể khác với nền tảng nguyên lý của phương diện thiện xảo . Sự toàn thiện của những phẩm tính trong bản thân nền tảng của hiện thể là chân lý tối hậu . Sự diễn giải những phẩm tính ấy trở thành hiện hữu như những sự vật trong thế giới ở cấp độ của chân lý tương đối .
Lại nữa , nghĩa rốt ráo về phô diễn của những thân và trí huệ nguyên sơ là : Sự hiện diện tự nhiên của bản thân nền tảng của hiện thể . Nghĩa tạm thời bao gồm : Những giải thích về các cõi tịnh của chư Phật . Danh hiệu của những Bổn tôn nam và nữ . . . khác với nền tảng . Có nghĩa : Như những thực thể có bản chất với các tướng nhất định .
Sau đây là giải thích về thực tại tối hậu ở cấp độ tương đối . Phù hợp với những phương thức của kinh nghiệm sinh tử . Hãy xem xét cách các bậc chiến thắng bao gồm trong năm thân . Trong thật tánh tối thượng , mọi hiện tượng của những hình tướng xuất hiện có thể có của Sinh tử và Niết bàn đều : Hiện diện vốn có như thuộc tính tự nhiên . Không thi thiết trong tánh Không tối thượng . Nền tảng hiện thể như: Hư không căn bản được gọi là “ Pháp ” ( Dharma ) . Do vô số tính cách và mức độ căn cơ . Tất nhiên sẽ có vô số lối vào con đường tâm linh . Vô số kinh nghiệm thiền định và vô số mục tiêu hiện hữu vốn có như những thuộc tính tự nhiên . Được gọi là “ Thân ” ( Kaya ) . Sự phô diễn hiện tại tự phát của những thân và trí huệ nguyên sơ vốn toàn thiện như là : Những thuộc tính tự nhiên được thọ hưởng . Được gọi là “Báo thân ” .
Với ý định hữu thức phóng ra . Tất cả những thân lưu xuất vẫn không lìa khỏi bản tánh . Tuy nhiên , lưu xuất hóa thân của những bậc thầy giác ngộ . Những nhà nghệ thuật . Những vị thầy tái sanh và vật vô tri được biểu lộ . Không gì khác hơn nền tảng của bản thân hiện thể . Bốn phương thức lưu xuất biểu lộ liên hệ duyên sanh . Đồng bộ với thức quan niệm ra một cái “ Tôi ” như thau nước có thể phản chiếu , và những phẩm tính hư không căn bản của Phật tánh như những tinh tú trên trời .
Thực ra , thế giới không nằm ngoài sự phô diễn của ba thân . Thuật ngữ “ Pháp thân ” ám chỉ phương diện bản tánh tinh túy như là tánh Không . “ Báo thân ” là phương diện bản tánh vốn sẵn hiện diện tự nhiên . “ Hóa thân ” là phương diện biểu lộ riêng biệt của những hiện tượng hình tướng bề ngoài .
Hơn nữa , thuật ngữ “ Tự tánh thân ” hàm ý chính nền tảng hiện thể là bản tánh tinh túy của tất cả Sinh tử và Niết bàn . Và tất cả mọi sự đều đồng một vị trong cùng bản tánh của tinh túy đó . Thuật ngữ “ Thân ” hàm ý gom tụ mọi phương diện của trí huệ nguyên sơ và những phẩm tính tốt đẹp .
Không có sự đổi dời nào trong ba thời . Vì bản tánh tinh túy của hiện thể là bất biến nên không thể biến đổi thành cái khác . Vì không thể tổn hại hay không bị bất cứ cái gì làm tổn thương nên gọi là bất diệt . Vì không hủy diệt bởi chính nó hay do cái gì khác nên gọi là chân thực . Vì an trụ như là nền tảng chung của tất cả Sinh tử và Niết bàn nên không thể hư hỏng . Vì những yếu tố tốt và xấu không làm nhiễm ô nên bền vững và thoát ngoài mọi chao đảo nên hoàn toàn vô ngại . Vì xuyên thấu bất kỳ cái gì kể cả những che chướng vi tế cái biết ( Sở tri chướng ) và không có đối tượng hay bất cứ duyên nào vượt thắng nên gọi là vô địch .
Như vậy , Bản tánh Kim cương bất hoại có bốn sự bảo đảm :
1- T rừ người có đạo tâm với nghiệp thích hợp và phước đức , Không chúng sanh nào chứng ngộ được .
2- Khi được chứng ngộ và đưa vào thực hành , Không thể không có sự tin cậy kiên cố .
3- Khi đã có sự tin cậy, Không thể nào không có giải thoát .
4- Tất cả những ai đã tìm ra sự giải thoát ; Không thể nào không giác ngộ Phật quả .
Sự hiện diện vốn sẵn của năm thân như : Những thuộc tính tự nhiên bản thân của nền tảng hiện thể là chân lý tối hậu . Sự diễn giải tách biệt với nền tảng ở cấp độ của cái gọi là : “ Chân lý tương đối ” và “ Con đường của phương tiện thiện xảo ” . Sau đây là căn cứ diễn tả những Bổn tôn theo những gia đình hay bộ . Tương đương với những loại chúng sinh bám chấp . Bản thân nền tảng hiện thể thanh tịnh đến độ . Những sự méo mó của những khuôn khổ do thói quen . Được xóa sạch trong hư không căn bản .

Thuật ngữ “ Xóa sạch ” ( Sang) được sử dụng ,

Vì trí huệ bổn nguyên và những phẩm tính tốt đẹp thường hiện bày .

Thuật ngữ “ Hiện bày ” ( Gyay ) được dùng ;

Do có Phật bộ ( Sang-gyay ) .

Vì hiện thể chúng sinh ;

Có bảy thuộc tính Kim cương bất khả hoại ;

Nên có Kim Cương bộ .

Vì tác dụng như nguồn của tất cả các thân ;

Và các phương diện của trí huệ nguyên sơ ,

Nên có Bảo Sanh bộ .

Vì không bị nhiễm ô bởi bất kỳ tỳ vết khuyết điểm nào ,

Nên có Liên Hoa bộ .

Vì những hoạt động giác ngộ được thành tựu trọn vẹn ,

Nên có Nghiệp bộ .

Thuật ngữ “ bộ ” hay “ gia đình ” ;

Diễn tả những nhóm họp tương ứng theo kiểu mẫu nói trên .

Sau đây là giải thích về năm cõi tịnh .

Tương ứng với sự bám trụ vào lãnh thổ của chúng sinh :

Từ sự dẫy đặc những phẩm tính tốt ;

Hiện diện tự nhiên trong nền tảng hiện thể như là :

Hư không căn bản . Nên có cõi Phô Bày Dày Đặc ( Tugpo Kodpa ) .

Vì nền tảng của hiện thể được phú bẩm niềm vui tối thượng ;

Niềm vui này không do bất kỳ đối vật , điều kiện hay tác nhân nào mang tới .

Nên có cõi Niềm Vui Được Biểu Lộ ( Ngonpar Gawa ) .

Vì nó phú bẩm vinh quang đầy dẫy của trí huệ nguyên sơ ;

Và những phẩm tính tốt ;

Nên có cõi Vinh Quang Phú Bẩm ( Paldang Danpa ) .

Vì được phú bẩm trí huệ nguyên sơ ;

Của phúc lạc bất tận và tánh Không ;

Nên có cõi Cực Lạc ( Dewachan ) .

Vì có sự trọn vẹn rốt ráo toàn thiện

Của mọi hoạt động tịnh hóa và tự do ;

Nên có cõi Hoạt động Trọn Vẹn ;

Và Rốt Ráo Toàn Thiện ( Layrab Dzogpa ) .

Thuật ngữ “ Trường ” ( Zhing ) chỉ hư không căn bản ;

Thuật ngữ “ Cõi ” ( Kham ) không gì khác hơn là :

” Sự cấu thành nền tảng ” của hiện thể .

Vì những phẩm tính tốt của nền tảng của hiện thể không thể đo lường ;

Nên thuật ngữ “ Vô lượng ” được dùng .

Vì hoàn toàn lấp đầy toàn bộ Sinh tử và Niết bàn ,

Nên thuật ngữ “ lâu dài ” ( Khang ) được dung .

Khi ánh sáng vốn sẵn bên trong nền tảng hiện thể chúng snh ,

Tỏa khắp như hư không căn bản hiển hiện rõ ràng .

Bởi trí huệ tối thượng toàn khắp và siêu việt ,

Nên có Vairocana ( Tỳ Lô Giá Na ) .

“ Sự biểu Lộ Rành Mạch ” ( Nampa Nangdzad) ;

Của tất cả những trí huệ nguyên sơ ;

Và mọi phẩm tính tốt của nền tảng hiện thể .

Có nghĩa của Phật tánh như là :

“ Sự cấu thành nền tảng ” của chúng sinh .

Vì được phú bẩm bảy thuộc tính Kim cương bất hoại ;

Thoát khỏi dao động trong ba thời .

Nên có Akshobhya ( A súc Bệ ) ;

Và “ Kim Cương Không Lay Chuyển ” ( Mikyod Dorje ) .

Vì là cội nguồn thuộc mọi yếu tố của con đường và quả ,

Được phú bẩm đầy dẫy phẩm tính tốt tuyệt hảo .

Nên có Ratnasambhava ;

“ Nguồn Của Sự Quý Báu ” ( Rinchhen Jungdan ) .

Amitabha , ‘Sáng Tỏ Vô Cùng’ ( Nangwa T’hayay ) ,

Ám chỉ phương diện vô cùng nền tảng của hiện thể chúng sinh .

Biểu lộ như những hiện tượng hình tướng .

Vì tất cả những đề mục của thực tại hiện hữu theo cách tự hữu ,

Nên có Amogasiddhi “ Thành Tựu Của Nghĩa ” ( Donyod Drubpa ) .

Tánh Không Kim cương tối hậu là hư không ;

Trong đó mọi hiện tượng Sinh tử và Niết bàn .

Biểu lộ trong phương diện đến và đi ( Dro ),

Nên có Vajradakini .

Ratnadakini là phương diện tính tự hữu ,

Của tất cả trí huệ nguyên sơ và những phẩm tính tốt ;

Tương tự một kho ngọc quý .

Padmadakini biểu thị ;

Phương diện thoát khỏi mọi bám luyến .

Karmadakini chỉ ,

Mọi hoạt động thân hiện diện tự nhiên ;

Và của trí huệ nguyên sơ là tự hữu không do cố ý nỗ lực .

Vì những méo mó do

Những phiền não ( Phiền não chướng ) và Vô minh ,

Đối với cái ta có thể biết được ( Sở tri chướng ) .

Bị xóa sạch trong hư không căn bản và trí huệ nguyên sơ ;

Cùng những phẩm tính tốt hiển lộ ;

Nên thuật ngữ “ Phật ” được dùng .

Và vì trong cõi hư không bao la ( Kha ) của tánh Không tối thượng ,

Mọi hiện tượng hình tướng của Sinh tử và Niết bàn .

Biểu lộ như những phương diện đến và đi ( Dro ) ,

Thuật ngữ “ Dakini ” ( Khadro ) – “ Người đi trên không trung ” ;

Hay “ Người nhảy múa trong không trung ” được dùng .

Phương diện nền tảng của Pháp thân , Phật tánh trở nên hiển lộ rõ ràng như : Nguyên lý thấm nhập khắp tất cả Sinh tử và Niết bàn . Đây là phương diện nền tảng của trí huệ vốn sẵn như là tự do tối thượng đối với những giới hạn . Thế nên , tất cả thực hành Sadhana liên quan tới thực tại tối hậu bao gồm như sau :
Đạt đến sự làm chủ bẩm sinh nhờ tin chắc sâu xa vào phương diện trí huệ vốn sẵn hay tánh giác vốn sẵn như là : Bản tánh những nguyên lý tâm linh cao nhất đều hợp nhất , và nhận lấy bản tánh nền tảng của thực tại làm sự quy y tối hậu và vô thượng .
Trải qua vô số đời từ vô thủy , phạm vi trí năng của con bị hạn cuộc ngặt nghèo do quan niệm “ Ngã ” là thật và bám chấp những đối tượng giác quan . Bây giờ con phải đạt đến quyết định rằng : Sinh tử và Niết bàn là ảo ảnh của trí huệ vốn sẵn và duy nhất . Thế nên , phạm vi tâm thức bình thường của con sẽ lớn lên . Đây là sự thiêng liêng nhất trong mọi phương cách phát Bồ đề Tâm .
Tâm thức bình thường của những quan niệm nhị nguyên : Đối tượng và chủ thể trở thành con quỷ lớn nhất của đời sống bị quy định khiến con người mãi lang thang trong vòng sinh tử . Trí huệ phân biệt siêu việt xua đuổi nó vào tánh Không . Không sơ hữu bất cứ vật gì ; sẽ làm hiển lộ trí huệ siêu việt thấu hiểu vô ngã và vô tự tánh . Tạo thành vòng che chở của Bồ đề tâm không bị đánh bại hay bị hủy diệt .
Làm trút xuống sự ban phước tối thượng của trí huệ hay tánh giác nguyên sơ vốn sẵn ; vào trong cõi tối tăm của sự không nhận biết trí huệ hay tánh giác vốn sẵn . Tạo thành giai đoạn thực sự của việc cầu ban phước . Với sự chứng ngộ : Những hiện tượng hình tướng sinh khởi là sự trang hoàng của trí huệ vốn sẵn . Như thế , sự phô bày tự xảy ra của những kinh nghiệm giác quan tạo thành hành động cúng dường .
Sự chuyển di từ “ Địa ” của tất cả kinh nghiệm bình thường vào Pháp thân là : Phương diện “ Địa ” ban đầu của Phật quả . Trí huệ siêu việt biết bản tánh nền tảng này đúng như nó là . Đồng thời tri giác những sự vật trong sự đa thù của chúng . Như vậy sẽ bao gồm cái thức biết tất cả và giác ngộ toàn vẹn .
Hai phương diện của trí huệ siêu việt trở nên rõ ràng là : Sự hợp nhất những bí mật của tất cả các bậc chiến thắng và con cháu thừa kế của các ngài . Những cấp đầu tiên chứng ngộ con đường phương tiện thiện xảo là : Chúng hội các vị giữ gìn giáo pháp . Từ sự làm chủ địa thứ tám và các địa cao hơn của chứng ngộ là : Chúng hội của những bồ tát ; và Phật quả thật sự . Và là : Chư Phật và những cõi tịnh độ . Đó là con đường phương tiện thiện xảo giải thích : “ Địa ” của mọi kinh nghiệm bình thường .
Sự không nhận biết tánh giác vốn sẵn là : Maheshavara . Mọi khuôn khổ tư tưởng khởi lên từ là : Những Hộ pháp của những giáo lý và tám loại Thiên long . Với phương diện địa ban đầu của Pháp thân trở nên rõ ràng . Những phương diện của trí huệ nguyên sơ tối thượng và tự hữu sinh khởi là : Năng lực được xếp thành phạm trù . Như thế được làm thành con đường phương tiện . Nên thực hành Sadhana thực sự sẽ làm rõ ràng : Trạng thái giác ngộ tối hậu của Phật quả . Tất cả những Sadhana và Mandala được xếp vào và thành tựu trong đó .
Giai đoạn triệu thỉnh là : Làm rõ ràng bản tánh nền tảng . Có nghĩa : Làm chuyển di mọi hiện tượng ba cõi sinh tử đến sự phô diễn của thật tánh tối thượng và độc nhất . Thế nên , phải trụ vững trong địa một cách trực tiếp . Thoát khỏi sự chuyển dời và biến đổi trong ba thời là : Cầu xin sự ở lại ( thỉnh Phật trụ thế).
Hành vi đảnh lễ khi gặp “ sự thấy ” mặt đối mặt là : Hành vi hoàn thành cảm thức sửng sốt khi gặp khuôn mặt thật sự của chính con . Vì phương diện địa ban đầu của Pháp thân là : Cái thấy hùng vĩ nhất của những cái thấy .
Sự phô diễn của những hiện tượng trong thật tánh thực tại là :
Hành vi tối thượng của cúng dường .

Sự tán thán tối hậu là :

Cảm thức của ngạc nhiên thán phục ;

Và tin chắc khi con thấy đúng như nó là :

Bản tánh nền tảng của Sinh tử và Nết bàn là Đi Toàn Thiện

Sự phô bày của Thân Giác Ngộ là :

Vô số hiện tượng hình tướng biểu lộ riêng biệt rõ ràng .

Sự phô diễn của Ngữ Giác Ngộ là :

Sự hoàn thiện và thành tựu trọn vẹn tự nhiên của chúng .

Sự phô diễn của Tâm Giác Ngộ là :

Bản thân hư không căn bản như tánh thanh tịnh bổn nguyên ,

Không bị giới hạn của những tạo tác ý niệm .

Đó là những đặc tính của tánh giác hay trí huệ vốn sẵn như Đại Toàn Thiện . Những phẩm tính tốt tự phát khởi nhờ thấu suốt : Sự phô diễn của các thân và tánh giác nguyên sơ . Không do tìm kiếm mà vốn đã hiện diện những phẩm tính thành tựu làm chủ đối với bốn loại hoạt động giác ngộ .Tương tự , hãy hiểu: Bốn quán đảnh đồng thời toàn thiện và trọn vẹn trong tự hữu của sắc tướng , ngữ , tâm trong những phẩm tính và những hoạt động giác ngộ .
Hiểu và chứng ngộ trạng thái hoàn thiện toàn vẹn đúng như nó là . . . Chính là Đại Toàn Thiện . Trước đây con đã lang thang trong vòng luân hồi do thiếu cái hiểu như vậy . Cho dù xưa nay vốn đã toàn thiện . Nhưng bị che tối do không nhận biết tánh giác vốn sẵn . Giống như nước vốn tự do trôi chảy . Nhưng bị đóng thành băng hay như vàng và ngọc đã bị bỏ qua vì không nhận biết . Nên không dứt được cảnh đói nghèo .
Rốt ráo , tánh giác hay trí huệ nguyên sơ và những phẩm tính của nền tảng của hiện thể, Phật tánh là toàn thiện và viên mãn như năng lực nguyên sơ của nền tảng . Những diễn giải về điều này là những Mandala riêng biệt của những yếu tố nâng đỡ . Được nâng đỡ là : Những phương tiện thiện xảo đưa những người chưa được điều phục . Cho những người gán sự vật có tính thường còn . Và con đường tương đối của nỗ lực đi đến hư không căn bản vốn không có nỗ lực . Thế nên , được trang bị bởi ba yếu tố then chốt :
1- Quang minh .
2- Thanh tịnh .
3- Tánh Không .
Từ đó người ta được đưa đến hư không căn bản của mục đích tối thượng ”
Nói xong ngài biến mất .


Chương XI: Lý Do Thực Hành Quán Tưởng Bổn Tôn Và Các Cõi Tịnh Độ
Vào dịp khác , trong một thị kiến tôi gặp Orgyan Tsokyey Dorje vinh quang và hỏi ngài như sau : “ Thưa bậc thống nhiếp và bảo bọc bổn nguyên . Vì lý do gì những sự quán tưởng và thực hành Sadhana liên quan đến các tịnh độ . Các trụ xứ vô lượng và những bổn tôn được chỉ dạy ? ” . Và ngài ban cho tôi sự trả lời sau đây :
Những vũ trụ trải khắp hư không là : Thế lực ma quỷ vô minh bên ngoài của cái thấy có tự tánh . Sự đối trị với điều này là : Thanh lọc chúng thành những cõi tịnh độ tạo bởi ánh sáng lưu xuất ” . Với cấp độ bên trong , quan niệm chỗ ở và giàu sang cũng như thân vật lý được hưởng thụ là : Thế lực ma quỷ bên trong của cái thấy có tự tánh . Sự đối trị với điều này là : Thiền định về những trụ xứ vô lượng và những Bổn tôn .
Trong mọi lúc và mọi cách . Thức tiềm ẩn dính liền và cảm nhận không dứt hiện tượng hình tướng biểu lộ như “ tự ngã ” , “ cái tôi ” là : Thế lực ma quỷ bí mật của cái thấy của bản ngã . Sợi dây xuyên suốt tất cả những trạng thái của tâm thức bình thường và những hiện tượng hình tướng của vòng sinh tử . Sự đối trị với điều này là : Giử chắc sự kiêu hãnh của Bổn tôn .
Nếu không hiểu những điểm then chốt này . Chắc chắn sẽ chểnh mãng với sự quán tưởng rõ ràng và nắm giữ niềm kiêu hãnh Kim cương . Như thế , chỉ tập trung vào trì niệm những câu thần chú ( Mantra ) . Có người chấp những Bổn tôn và các cõi tịnh độ là những thực thể tự lập . Như vậy cho dù thực hành Sadhana đấn đâu đi nữa . Vẫn không thê giác ngộ Phật quả . Như thế, con phải hiểu những điểm then chốt này ! ” .
Nói xong ngài biến mất giữa hư không .


Chương XII: Những Danh Hiệu Của Thực Tại Tối Hậu

Vào dịp khác , tôi gặp nữ hoàng cao cả nhất của Hư Không Căn Bản – Ekajati . Trong thị kiến tôi hỏi như sau : “ Thưa ngài , người duy nhất của tất cả Sinh tử và Niết bàn . Đường lối tiếp cận tâm linh vui thích trong bầu trời bí mật của nữ hoàng cao cả nhất của hư không căn bản . Trong tánh Không tối thượng của Sinh tử và Niết bàn được đặt tên là gì ? ” . Ngài ban cho sự trả lời sau đây :
“ Hỡi con nhỏ của mẹ, ta đã cho con toàn bộ trao truyền dòng : Tâm truyền tâm như ban cho con một thân thể . Ta đã nuôi nấng dạy dỗ con với dòng truyền qua biểu tượng như cho con bú sữa mẹ . Ta đã nuôi lớn trí con, ban cho dòng khẫu truyền như lời khuyên chân thành . Hãy chỉ dạy những điều này cho những người phước đức cần được điều phục . Vì họ có mối liên kết với con bởi nghiệp và nguyện vọng. Tất cả những người có liên kết với con sẽ tìm thấy mục tiêu và ý nghĩa trong những điều này .
Tên ta được đặt cho pháp oai nghiêm nhất trong mọi đường lối tiếp cận tâm linh . Tất cả những âm thanh nghe được đều là tên của ta . Như thế sự phô diễn trùm khắp bầu trời của người mẹ hưởng thụ hư không. Sự bí mật vô thượng và rốt ráo được gọi bằng nhiều thuật ngữ . Riêng nơi đây ta sẽ chỉ nói đến bảy tên :
1- Vì pháp này bao gồm hai loại bí mật vĩ đại ; Nên được đặt tên là “ Bí mật ” .
2- Vì che chở người khỏi những hậu quả đáng sợ của việc , Tạo ra ý niệm về một bản ngã .
3- Và những ý niệm về đặc tính xác định của bản ngã , Nên được đặt tên là “ Mantra ” ( thần chú ) .
4- Được đặt tên là “ Kim cương ” ( Vajra ) bất hoại của thực tại tối hậu .
5- Những phẩm tính của mọi con đường , Được chưng cất thành tinh túy ; Nên nó được đặt tên là “ Yana ” – Thừa ; hay “ Đường lối tiếp cận tâm linh ” .
6- Vì trụ như cách thế hiện hữu rốt ráo của mọi hiện tượng ; Nên được đặt tên là “ Nghĩa ” .
7- Vì là sự chứng ngộ tối cao , Nên được đặt tên là “ Thiêng liêng ” .
Nó là sự lọc bỏ mọi lỗi lầm và méo mó . Nó là sự làm chủ trọn vẹn bên trong và trùm khắp mọi phẩm tính của những thân, tánh giác nguyên sơ con đường và đích đến . Và là tâm trụ như sức sống độc nhất của ba Kim cương . Nền tảng cho sự sinh khởi trò phô diễn dị biệt của mọi vật trong sự thanh tịnh bình đẳng . Nó là sự toàn thiện ( Dzog-pa ) của ba cách thế : Sinh tử , Niết bàn và con đường . Nó là “đại ” ( Chen-po ). Vì vận hành như nền tảng chung của mọi con đường tâm linh . Gom tất cả vào một mục tiêu duy nhất ; và hội tụ chúng về một điểm duy nhất .

Vì vượt khỏi mọi góc cạnh của ý niệm ;

Nên là “ Bindu ” hay quả cầu ( t’hig-le ) .

Vì Sinh tử và Niết bàn là một vị trong Bồ đề tâm ;

Nên là “ Duy nhất ” .

Vì cõi giới của tánh giác vốn sẵn – Phật tánh trong suốt vi diệu ,

Không có bất kỳ nhiễm ô nào ;

Nên là “ Quang minh toàn triệt ” .

Vì được phú bẩm bảy đặc tính của kim cương bất hoại ,

Nên được đặt tên là kim cương ;

Vì trụ như tinh chất của tất cả hiện tượng Sinh tử và Niết bàn ,

Nên được gọi là “ Tinh túy ” .

Vì mọi hiện tượng Sinh tử và Niết bàn trong sự bao trùm của Phật tánh ;

Và trong trạng thái hoàn hảo trọn vẹn ( Viên dung ) ;

Nên là sự “ Hoàn hảo ( viên dung ) trùm khắp của Sinh tử và Niết bàn ” .

Vì không có mọi thứ sinh , chết, già ,

Nên là “ Trẻ trung ” .

Vì không sự xâm phạm nào có thể có ;

Trong sự hiện diện trùm khắp tự nhiên ,

Nên là “ Cái bình ” ;

Vì vốn là sự tập hợp hay quy tụ của mọi phẩm tính ,

và phương diện tốt đẹp của tánh giác nguyên sơ ;

Nên là “ Thân ” .

Nói xong , đức bà biến mất .

Tôi nói chi tiết hơn về lời giảng giải của đức bà bằng cách giải thích tất cả những phẩm tính tốt đẹp của con đường của chín thừa là hoàn thiện và trọn vẹn như thế nào .

1- Thừa Thanh Văn : Tri giác mọi hiện tượng hình tướng biểu lộ như một cá thể ; Có nghĩa , Tất cả những căn cứ cho quan niệm “ Ngã ” đều không có tự tánh .
2- Thừa độc Giác Phật : Sự chứng ngộ những thực thể bên ngoài và bên trong, Chỉ là những hình tướng như huyễn của liên kết duyên sanh tương thuộc .
3- Thừa Bồ Tát : Năng lực chứng ngộ tánh Không khởi lên như bản tánh thiết yếu của lòng bi ,

Bao trùm mọi phương diện của phương tiện thiện xảo ;

Và trí huệ siêu việt một cách tất nhiên không cố gắng .

Những phẩm tính tốt đẹp của ba đường lối tiếp cận này ,

Đưa người ta ra khỏi nguồn gốc của khổ đau ;

Hoàn thiện và trọn vẹn theo cách :

Thừa cao hơn bao gồm những thừa thấp hơn .

4-Thừa Kriyatantra : Làm vui thích bổn tôn ; Bằng những thực hành khổ hạnh và thanh tịnh trong nghi lễ.
5-Thừa Upayatantra : Thần lực ( Sid-dhi ) ; Được thành tựu nhờ tụng chú và nhập định.
6-Thừa Yogatantra :

Là Yoga của an định và huệ quán ;

Của cái thấy sự ban phuớc trong hư không căn bản ;

Hoàn toàn vắng dứt mọi đặc tính trong Mandala tối thượng –

Hư không căn bản bất động tức là Kim cương giới .

Tất cả những phẩm tính và chức năng tốt đẹp của ba thừa này ,

Cầu gọi tánh giác hay trí huệ vốn sẵn ,

Bằng những thực hành khổ hạnh vốn là toàn thiện ;

Và trọn vẹn trong hư không căn bản đơn nhất đồng khởi ,

Bản tánh không thể diễn tả của tâm – Tinh túy của thần lực ( Siddhi ) .

7-Thừa Mahayoga :

Mọi nhân tố trong thừa này hay Tantra cha là :

Thanh tịnh từ vô thủy trong Pháp thân tối thượng ;

Như sự không thể tách biệt của hai cấp độ cao hơn của chân lý ,

Hay thực tại tối hậu với bảy đặc tính .

8-Thừa Anuyoga :

Đặt nền trên những bình giảng ,

Mandala của Bồ đề tâm phúc lạc tối thượng là :

Đứa con sinh từ sự hợp nhất của hai Madala ;

Một Mandala vốn hiện hữu như cách nguyên sơ và không có thời gian ,

Một Mandala là sự hiện diện tự nhiên của tánh giác nguyên sơ .

Trong Mandala của Bồ đề tâm ,

Thế giới của mọi hiện tượng có thể có đều hoàn thiện ;

Và trọn vẹn trong trạng thái thanh tịnh và bình đẳng tuyệt đối .

9-Đại toàn thiện :

Là bản tánh cố hữu của thực tại ,

Quang minh toàn triệt là hư không căn bản độc nhất ;

Không trung tâm hay chu vi .

Trong đó ;

Phương diện nền tảng của hiện thể chính là :

Phương diện của những hiện tượng hình tướng hiện diện tự nhiên quý báu .

Tất cả tự khởi không phân chia phần mảnh hay rơi vào những cực đoan ,

Nên không tách biệt cũng như không có sự phân biệt giữa vàng và sắc vàng .

Nghĩa của những thừa trước được bao gồm trong Đại Toàn Thiện Nghĩa là trong Pháp thân không dời chuyển biến đổi , tánh giác vốn sẵn tuyệt đối không hế có bất cứ giới hạn nào . Nền tảng của hiện thể như là hư không căn bản chính là : Thật nghĩa của Phật tánh . Sự trình bày những thừa một cách riêng biệt . Không gì khác hơn giải thích để dẫn dắt những người cần được điều phục trong giai đoạn tiệm tiến .


Chương XIII: Con Đường Đại Toàn Thiện

Về sau , trong thị kiến khi tôi gặp vua của các vị nắm giữ hiểu biết ( Vidyadhara ) – Shri Simha . Tôi hỏi ngài : “ Hỡi bậc thầy tôn kính , con xin ngài chỉ cho con con đường đại Toàn Thiện là gì ? ” . Trước sự cầu xin của tôi, ngài ban cho sự trả lời sau đây :
“ Đại Toàn Thiện là nền tảng tối thượng chung của Sinh tử và Niết bàn – Hư không căn bản tối thượng . Trong đó có ba cách thái : Sinh tử , Niết bàn, và Con đường đều toàn thiện và viên mãn . Hiểu được bản tánh này như nó thực sự là . . . Đây là cái thấy ( Tri kiến hay Kiến giải ) . Đạt được sự thông thạo trong nền tảng vô thượng bổn nguyên nguyên sơ và không có thời gian . Bằng sự tự giác và mở rộng trong thực trạng hiện tiền của chính mình là : Thiền định tự do thoát khỏi mọi khuôn khổ quy chiếu cố định .
Giống như một giọt nước hòa với đại dương và trở thành đại dương . Nhưng không làm biến chất đại dương . Hay hư không trong bình hòa với hư không bên ngoài khắp suốt không đổi thay . Nền tảng hiện thể hay tâm bình thường . Vốn không trong ngoài nhưng vì phân biệt nên chia thành trong và ngoài . Tất cả chỉ do sự vọng tưởng thành ra tự ngã và tự tánh .
Cũng như nước , hiện hữu trong trạng thái trôi chảy tự do tự nhiên . Trở nên đông cứng thành băng dưới ảnh hưởng của sự lạnh . Như nền tảng hiện thể hiện hữu trong một trạng thái tự do tự nhiên . Nhưng quang phổ của vòng Sinh tử được thiết lập do vọng tưởng tiềm ẩn về một tự ngã cá nhân và tự tánh của những hiện tượng .
Hiểu sự kiện này , nên buông bỏ ba loại hành động : Tốt , xấu và trung tính do thân tạo ra và ngồi như một xác chết trong nghĩa địa không làm gì cả . Buông bỏ ba loại hành động của ngữ như người câm . Cũng như buông bỏ ba loại hành động của tâm thức : Nên an trụ không thi thiết như bầu trời mùa thu . Không có những duyên làm ô nhiễm nên được gọi là : Thiền Định Quân Bình ” .
Cũng được gọi là : Bỏ mọi điều phải làm ” hay “ Không có điều gì để làm ” . Vì mọi cách thức hoạt động đã buông bỏ và “ Vượt khỏi tâm lý trí bình thường ” . Vì không có sự thi thiết , tạo tác của tâm lý trí bình thường . Trong bối cảnh điểm then chốt này sẽ khám phá sự tin cậy kiên cố vĩ đại .
Hơn nữa , vào tất cả mọi lúc . Khi đi , ngồi , di chuyển , cử động , tụng chú , nói , suy nghĩ hay hành động . Không để mất viễn cảnh cái thấy của mình . Hãy tỉnh giác rằng : Thế giới tất cả mọi hiện tượng có thể có đều như huyễn . Không mất sự tự tin kiên cố vào thiền định . Hãy tỉnh giác bản tánh hiển lộ rõ ràng . Không xao lãng trong cư xử . Dựa một cách đúng đắn vào bốn loại hạnh đích thực . Đấy là những điểm then chốt để nương dựa cho đến ngày chấm dứt cuộc đời . Đây là thiền định vốn tự do thoát khỏi tâm lý trí bình thường .
Điểm then chốt của hạnh là : Từ bỏ những hành động không đức hạnh của thân và ngữ như thuốc độc . Không quá nhấn mạnh vào cái thấy . Đến độ hy sinh hạnh bằng cách nghĩ : Vì mọi sự đều không . Nên không bị nhiễm ô bởi những khuyết điểm bất kể cư xử như thế nào . Thế nên , hãy bình an , tự điều phục và cẩn trọng như người đang ra trước tòa đại hình .
Ngược lại , do bám chấp vào những hành động đức hạnh thứ yếu của thân , ngữ , ý . Cho chúng là sâu xa , như thế sẽ coi nhẹ cái thấy và thiền định chân chính . Nếu tiêu phí cuộc đời làm người và tích tập công đức trong vòng sinh tử . Chắc chắn vẫn bị trói buộc cho dù với sợi xích bằng vàng . Không quá nhấn mạnh vào hạnh đến độ hy sinh cái thấy . Như thế sẽ sống như con sư tử tuyết oai hùng đi dạo trên băng tuyết . Không có con thú nào làm cho bối rối .
Nhất là , nếu đi theo những người nói rằng : Dù người đã chứng ngộ tánh Không cũng phải trau dồi lòng bi ở chỗ khác tương tự nói rằng : Dù có nước vẫn phải tìm tính ướt ở chỗ khác . Cho dù có lửa vẫn phải tìm sức nóng ở chỗ khác . Hay đang được gió thổi mà lại tìm sự mát mẻ ở chỗ khác . Kinh nghiệm rốt ráo và quyết định chứng nghiệm Sinh tử và Niết bàn chính là tánh Không tối thượng . Cũng là Bồ đề tâm rốt ráo và đó là lòng bi hưởng thụ sự thanh tịnh bình đẳng của Sinh tử và Niết bàn .
Có những người , khi được trực tiếp giới thiệu và hiểu biết những điểm then chốt và những tiến trình căn bản của cái thấy và thiền định đúng như chúng là . . . Lại đi xét đoán cho là : Chỉ riêng sự giới thiệu này cũng là quá đủ . Như thế , vẫn còn bám chấp vào những sự việc cần làm trong vòng sinh tử . Họ đã phí phạm những cuộc đời làm người trong đủ loại hạnh đặt nền trên sự tham luyến và ghét bỏ . Tất cả cái thấy và thiền định của họ chìm ngập trong những hành động và hoạt động của vòng sinh tử .
Những kinh nghiệm thiền định phù du xảy ra trong tâm thức bình thường và dòng thức giác hoàn toàn khác như :

Những kinh nghiệm về lạc thú ,

Thúc đẩy tái sinh làm một vị trời cõi Dục .

Những kinh nghiệm sống động về sáng tỏ ,

Thúc đẩy tái sinh vào cõi sắc .

Những kinh nghiệm về cái không

Sự xuất thần trong trạng thái vô niệm như ngủ say .

Không nhớ hay tỉnh giác ,

Thúc đẩy tái sinh trong bốn trạng thái của cõi Vô sắc .

Không có một chút ý niệm mơ hồ về cái thấy tánh Không ;

Vì thế ,

Có thể quyết định theo trí thức rằng :

Tâm là trống không .

Chỉ vì ;

Không thể xác định như là một thực thể có thật .

Nên an định nhất tâm vào bối cảnh tánh Không đó .

Cái thấy này sẽ thúc đẩy đến chót đỉnh của đời sống hữu vi ,

Có nghĩa tái sinh làm vị trời trong trạng thái không tri giác .

Cũng như có thể gặp những biến động :

Những biến động bên ngoài là ;

Những phô diễn dị thường khác nhau ;

Làm ảnh hưởng đến giác quan như :

Những triệu xấu như những mưu toan của quỷ thần .

Những biến động bên trong là :

Bệnh tật và đau đớn trong thân .

Những biến động bí mật là :

Những sự dao động tâm trạng không duyên cớ .

Nếu ý thức được những khuyết điểm kín đáo nàyChúng ta sẽ thấy chúng đều là những kinh nghiệm hư giả . Vì thế , khi đã đạt đến quyết định về chuyện này . Chúng sẽ tự tan biến . Nếu tự củng cố chúng bằng hy vọng và sợ hãi cho là thật . Tất nhiên chúng có thể trở nên những trường hợp làm nguy hại tính mệnh như : Thời kỳ loạn thần . Có nghĩa , trở nên bám chấp cứng ngắc vào những hiện tượng hình tướng biểu lộ như quỷ thần . Đó là nguyên nhân khiến một Đại thiền giả thoái hóa thành một người rất thường tục ” .
Nói thế xong ngài biến khỏi tầm nhìn .


Chương XIV: Phân Biệt Trí và Thức

Vào dịp khác , trong thị kiến về sự biểu lộ tự xuất hiện của cõi thanh tịnh rốt ráo Akanishtha ( Ogmin ) . Cảnh nghĩa địa đầy những ngọn lửa cháy sáng . Tôi gặp Zurchhung Sheyrab Dragpa và nói với ngài : “ Thưa tôn sư đáng kính , xin ban cho con tinh túy sâu xa nhất của tâm giác ngộ của ngài . Loại giáo huấn trong vài lời cô đọng ý nghĩa ” . Trước sự thỉnh cầu của tôi , ngài ban cho sự trả lời sau đây :
“ Hãy nghe người cầu đạo . Vì trong con đồng thời có những tích tập công đức và trí huệ nguyên sơ . Những nguyện vọng và những khuynh hướng nghiệp được củng cố từ vô số kiếp . Nếu con muốn đạt đến trạng thái toàn giác và Phật quả . Hãy làm vui lòng thầy con với lòng sùng mộ nhiệt thành trong mọi đức hạnh .
Nên tu hành không ngừng lòng từ ái và cái nhìn thanh tịnh . Đối với những anh em đồng tu . Hãy nỗ lực cho giải thoát và toàn giác bằng lòng bi mãnh liệt đối với chúng sinh và bỏ đi những việc trong vòng sinh tử . Luôn nghĩ đến bản chất của mọi thứ hợp tạo là vô thường . Những điểm để yên trong lãnh vực không có gì khác hơn để làm là : Tinh túy sâu xa và cao cả nhất của toàn bộ Phật pháp thiêng liêng . Sau đây là ba điểm then chốt :
1- Không lãng phí những giáo huấn tâm linh là : Phụng sự cho vị thầy linh thánh .
2- Tôn kính thệ nguyện không giả dối là : ” Hòn đá tinh thần ” của những Bổn tôn và Hộ pháp .
3- Hòa trộn đời người này với Phật pháp là : Cảm thấy trong tâm không có gì chưa hoàn tất vào lúc chết .
Hãy giữ thệ nguyện và những giới luật như giữ mạng sống của con . Vì đây là điểm then chốt bảo đảm cho Đại thiền giả không thoái hóa thành người rất tầm thường . Hãy tuân thủ sự bằng lòng về những thích thú giác quan . Đây là lời khuyên khiến không bị ngu muội bởi những đối tượng giác quan hèn kém .
Hãy hiểu rằng vòng sinh tử là vô tự tánh . Đây là lời khuyên cắt đứt những bám chấp của thích và ghét. Hãy biết rằng như vòng nhang cháy liên tục , những hành động được làm trong sinh tử sẽ không có điểm ngừng . Đây là giáo huấn trao truyền trực tiếp làm cho chúng chấm dứt .
Trước tiên nên khai triển sự hiểu bằng cách nương dựa vào thực hành . Về sau , khai triển kiến giải bằng cách : Khởi phát kinh nghiệm cá nhân trong dòng tâm qua khảo sát và phân tích . Nhưng , nếu chỉ bằng sự hiểu và kiến giải như vậy Chắc chắn chưa đủ đạt đến giải thoát . Cũng như có thực phẩm nhưng không thể không vì không ăn .
Như bóng tối sẽ không còn khi bình minh ló dạng . Vì thế khi đã buông bỏ mọi loại hoạt động . Chắc chắn sẽ đạt vững chắc trong thể trạng hiện tiền chính mình ; qua sức mạnh của thiền định . Vào thời điểm không có sự phân mảnh của tầm bao quát của tánh giác vốn sẵn . Chắc chắn sẽ khám phá sự tin chắc bẩm sinh bên trong . Ngay trong thể trạng hiện tiền của chính mình .
Nhưng đến đây vẫn chưa thể được xem là giác ngộ Phật quả . Vì dù những hình tướng hiện tượng tiêu dung trong chân tánh thực tại . Trải rộng tự do trong cõi giới của hư không căn bản . Trùm khắp và tối thượng siêu vượt khỏi sự méo mó nhỏ nhất của hiện tượng hình tướng và tâm bình thường sinh tử và có thể đạt đến cấp độ của tự do .
Nhưng trong trường tri giác này . Một che chướng nhỏ nhất về cái có thể tri giác cũng bị xóa sạch không còn sót lại . Và sự làm chủ đạt được chính là tánh giác nguyên sơ tối thượng thấu rõ tánh và tướng của tất cả sự vật . Nên , người ta giác ngộ Phật quả trong Pháp thân như hư không – Sự phô diễn bình đẳng của ba thân .

Hỡi đứa con của dòng giống cao cả ;

Đặc tính tâm bình thường ( Sem ) là :

Không nhận biết tánh giác vốn sẵn của nền tảng của hiện thể .

Vì những tư tưởng phiêu dạt sinh ra rồi diệt mất làm ;

Năng lực của sự không nhận biết .

Đặc tính của tánh giác vốn sẵn ( Rig-pa ) là :

Nền tảng của hiện thể rõ ràng hiển hiện ,

Với thật tánh tối thượng không có thời gian ;

Và nguyên sơ thanh tịnh là năng lực .

Phương diện nền tảng của tánh giác vốn sẵn là :

Tỉnh giác thấu suốt bản tánh của nền tảng của hiện thể .

Phương diện con đường của tánh giác vốn sẵn là :

Tỉnh giác sáng tỏ vi tế, thoát khỏi những nhân tố nhiễm ô ,

Làm hiển lộ rõ ràng chân tánh của thực tại.

Khi hai phương diện này đồng thời ;

Đây là đại Toàn Thiện, tánh giác vốn sẵn và toàn khắp .

Thuật ngữ ;

“ Thức ý niệm hóa ” ( Yid ) .

Ám chỉ thức làm hiển lộ tất cả những hiện tượng hình tướng ;

Khởi lên và chúng là những tạo tác của tư tưởng phiêu dạt .

Thuật ngữ ;

“ Thức ý niệm hóa phiêu dạt ” ( Yid-kyi-nam-shey ) .

Ám chỉ sự lưu thông không ngừng của ;

Sáu loại đối tượng giác quan tạo thành những hình tướng sinh khởi .

Phương diện nền tảng của trí huệ siêu việt là : Thấu hiểu đúng như nó là . . . Trạng thái nền tảng của Sinh tử và Niết bàn là tánh Không tối thượng . Phương diện con đường Trí Huệ Siêu Việt là : Con đường trực tiếp lưu thông không ngừng của tánh giác thong dong và rỗng rang . Khi hai phương diện này xuất hiện đồng thời , thuật ngữ “ Trí Huệ Siêu Việt Tỏa Khắp ” sẽ được sử dụng .

Thuật ngữ ;

“ Thức phiêu dạt ” .

Ám chỉ sự lưu thông không ngừng ,

Của những hình tướng giác quan được khởi lên .

Thuật ngữ ;

“ Năng lực vi tế của nghiệp ” .

Ám chỉ những khuôn khổ tư tưởng phiêu dạt ;

Dán cho những hiện tượng hình tướng hiện hữu thật sự .

Toàn bộ phạm vi của vòng sinh tử được thiết lập từ sự đồng bộ của những phương diện thô và tế của thức ý niệm hóa . Tánh giác ( hay trí huệ ) nguyên sơ ( Ye-shey ) . Rõ biết thật tánh của tất cả mọi sự . Rõ biết trạng thái nền tảng của bản tánh của thực tại hay Phật tánh .
Tánh giác nguyên sơ , tri giác sự đa thù về những sự vật lưu thông không ngừng của tánh giác hay trí huệ rõ biết và nhận thức tất cả . Tánh giác này vận hành khi trạng thái nền tảng tánh “ Như ” – Thật tánh của thực tại hiện tiền . Sự rộng mở khắp , nên được đặt tên là : Tánh giác ” hay trí huệ nguyên sơ vốn bình đẳng và thanh tịnh .
Do không nhận biết tánh giác vốn sẵn nền tảng hiện thể . Làm phát sinh trạng thái nghiệp trung tính . Vô số phương diện của năng lực vi tế của nghiệp chuyển động trong thức nền tảng Alaya thuộc kinh nghiệm bình thường . Giống như vô số hình ảnh biểu lộ trong trạng thái ngủ mộng .
Đây là : Nền tảng hay gốc rễ của tất cả vòng sinh tử . Thật ra , mọi hình tướng hiện tượng đều hiện diện rỗng rang thong dong trong cõi giới : Phát lộ trực tiếp của tánh thanh tịnh tối thượng bình đẳng của Sinh tử và Niết bàn – Thật tánh của thực tại không dấu vết giới hạn của những tạo tác ý niệm . Đây chính là Pháp thân của Samantabhadra ( Phổ Hiền ) .

Hỡi đứa con của dòng giống cao cả ! .

Mọi phản chiếu của mặt trăng ;

Và những vật khác trong nước là :

Sự phô diễn của nước .

Không ra ngoài tánh nước .

Toàn bộ vũ trụ sống động và vô tri như sự chứa đựng ;

Và những gì được chứa đựng .

Đó là :

Sự phô diễn của hư không không ra ngoài hư không .

Toàn bộ Sinh tử và Niết bàn là :

Sự phô diễn của thật tánh duy nhất của thực tại ,

Không ra ngoài thật tánh của thực tại .

Như thế ,

Khi phương diện nền tảng của Pháp thân sâu thẳm ;

Và sáng tỏ tối thượng hiển lộ rõ ràng .

Pháp thân là :

Bản tánh tinh túy thanh tịnh bình đẳng của Sinh tử và Niết bàn .

Báo thân là :

Bản tánh cố hữu như tánh giác nguyên sơ và những phẩm tính tốt đẹp .

Hóa thân là :

Sự đáp ứng nhanh nhạy của lòng bi bẩm sinh ;

Vốn quang minh không bị che chướng .

Sự phô diễn của ba thân này là thực tại tối hậu .

Thuật ngữ :

“ Thức nền tảng Alaya của mọi kinh nghiệm bình thường ” .

Ám chỉ ;

Sự thiếu tỉnh giác với bản tánh nền tảng hiện thể vốn thanh tịnh .

Thuật ngữ :

“ Thực tại tương đối ” ;

Ám chỉ ;

Những hiện tượng hình tướng là năng lực ;

Và những biến cố tâm thức bình thường là :

Sự phô diễn khởi lên từ sự tỏa sáng hướng ngoại của sự không nhận biết .

Hiểu được mọi cành nhánh phô diễn của tạng thức bao trùm , tỏa rộng và trải khắp tất cả . Các con nên quyết tâm bước vào , thật tánh thực tại trực tiếp vốn hiện tiền vào bản tánh tuyệt đối không thể diễn tả . Xưa nay không một vật . Sự an trụ trong bản tánh nền tảng . Vượt khỏi tâm thức với lý lẽ bình thường . Vĩnh viễn thong dong và rỗng rang . Các con nên giữ điều này như điểm then chốt tuyệt hảo nhất . Hãy thực hành tinh tấn cho đến khi đạt được tánh giác nguyên sơ tối thượng toàn giác ” .
Nói xong , ngài biến vào không gian căn bản của thật tánh của thực tại .
Bản văn này được viết để đáp ứng cho những thỉnh cầu liên tiếp của Padma Lungtog Gyatso và Khyenrab Gyatso . Hai vị thầy tái sanh có mối liên hệ nhiều kiếp với tôi vì có chung nghiệp và những nguyện vọng . Tôi , Thrag-thung Dudjom Dorje Drolod Tzal . Viết bản văn này từ kho tàng Pháp giới của sự phô diễn như huyễn .
Những Dakini đã tiên tri : Có khoảng sáu mươi tám người có đạo tâm cao cả sẽ là người bảo hộ cho lời dạy này do lệnh của đức Orgyan vĩ đại . Đây là dịp đầu tiên quy tụ những duyên lành ( cho những lời dạy này được viết ra ) . Con trai ruột và linh thánh của tôi : Học giả xuất sắc Sodnam Tandzin ( Dodrub Rinpoche); đã biên tập bản thảo một cách tỉ mỉ .


LỜI BẠT
Đức Ngài Dudjom Rinpoche Jigdral Yeshe Dorje
Bản văn này, được biết với tựa đề ngắn Tinh Lọc Những Hiện Tượng Hình Tướng (Nang-jang), là một lời dạy khai triển chỉ cho thấy rằng sự đại toàn thiện của tánh thanh tịnh bổn nguyên là bản tánh tối thượng đạt được bằng cách “cắt đứt sự bám chấp cứng đặc” ( treg-chod). Rõ ràng nó đã được biên tập cách nào đó bởi Dodrub Rinpoche, người con trưởng của đức Dudjom Lingpa. Tuy nhiên về sau bản văn trở nên có các lỗi ,vì vậy ngày nay có nhiều bản hỏng. Chính vì lý do này mà bằng nguyện vọng và hoạt động của người cầm quyền vinh quang Thaiji Tsewang Rigdzin Nampar Gyalwa, bản in lần này được sửa soạn như một kho tàng vô tận những tặng vật của Phật Pháp, những xá lợi của pháp thân.
Khi những bản gỗ để in bản văn được cất trong phòng thờ của lâu đài Samdrub Phodrang của người cha của một trong những đức Dalai Lama, tôi đã biên tập bản văn của lần xuất bản mới nhất này với sự chú tâm lớn lao vào tính chính xác. Tôi, Jigdral Yeshe Dorje, người mạo muội tự xem mình là một diễn viên múa như huyễn, một tái sanh của heruka vĩ đại và nắm giữ tánh giác vốn sẵn, đã sửa soạn cho lần xuất bản nghiêm túc này. Nguyện nó được là một phụng sự lớn cho những giáo lý Đại Toàn Thiện của quang minh triệt để, và nguyện nó được phục vụ như là một nguyên nhân cho vô số chúng sanh có phước đức muốn được điều phục để tìm thấy tự do thật sự trong hư không căn bản bên trong vốn trực tiếp hiện tiền, nền tảng bổn nguyên của hiện thể.
Tốt lành!


Phân Tích và Phác Họa Cơ Cấu
Quyển Tinh Lọc Những Hiện Tượng Hình Tướng( Nang-jang )
Bản Văn Cắt Đứt Lập Tức Sự Chấp Cứng Trong Đường Lối Tiếp Cận Đại Toàn Thiện
Namo guruye : Đảnh lễ tôn sư !
Bản văn này , Phật Quả Không Thiền định . Gồm lời chỉ dạy về : Cắt Đứt Trực Tiếp Sự Chấp Cứng ( Threg-chod ) . Chứng ngộ Tánh Thanh Tịnh Bổn Nguyên Trong Đường Lối Tiếp Cận Đại Toàn Thiện dùng để giải thích những giai đoạn của giáo huấn . Có ba tiêu đề dùng thuyết minh : Những nguyên nhân viết ra giáo lý , việc soạn sách ; và phần kết luận .

Phần Một :

Thuyết Minh Những

Nguyên Nhân để Viết Ra Giáo Lý

Phần này có ba đoạn :

Nói về tựa đề .

Bày tỏ sự tôn kính .

Nói về bối cảnh .

Nói về tựa đề :

Phật quả Không Thiền định

II

Bày tỏ sự tôn kính :

Với đức tin không lay chuyển ,

Tôi kính lễ bậc tối thượng ;

Bậc bảo vệ bổn nguyên . . . của tánh giác nguyên sơ .

III

Nói về bối cảnh :

Ngày nay ,

Khi năm loại thoái hóa . . . ;

Về tự tánh của những hiện tượng .

Phần Hai :

Phát Lộ Nghĩa Phần Chính Như :

Mục Tiêu Của Việc Soạn Sách

Phần chính này có bốn đoạn :

1- Đạt đến quyết định bằng cái thấy .

2- Áp dụng thực hành bằng thiền định .

3- Nâng cao chất lượng bằng hạnh .

4- Làm thế nào quả trở nên rõ ràng .

I – Đạt đến một quyết định bằng cái thấy

Có bốn phân đoạn :

1-

Đạt đến kết luận xác quyết : Mọi hiện tượng là tánh Không không thể diễn tả . Đưa nền tảng hiện thể hư không căn bản quy về tánh giác hay trí huệ nguyên sơ đơn nhất tự hữu . Bao gồm : Sinh tử và Niết bàn vào hệ biến hóa của sự tỏa khắp đồng nhất . Không kẽ hở và không có thiên vị hay cực đoan . Nhảy vào trạng thái hiện diện tự nhiên tối thượng của sự không cố gắng vĩnh cửu bổn nguyên và quang minh vốn sẵn .

A-

Đạt đến kết luận xác quyết :

Mọi hiện tượng là tánh Không không thể diễn tả

Phân đoạn này có hai phần :

1-

Đạt đến một kết luận xác quyết về :

Sự không có tự ngã của cá nhân con người ;

Đạt đến một kết luận về sự không có tự tánh của những hiện tượng .

1-

Đạt đến một kết luận xác quyết về :

Sự không có tự ngã của cá nhân con người :

Phần này có ba phần nhỏ :

Đạt đến những kết luận xác quyết về :

a) Nguồn gốc từ đó tự ngã được giả định này sinh khởi .

b) Nơi chốn khoảng giữa .

c) Chỗ cuối cùng nó đến .

a) Khảo sát nguồn gốc ban đầu :

Trước hết , Chúng ta hãy xác định “ Tự ngã của cá nhân ” . . .

Không có nguồn gốc đích thật nào như vậy .

b) Khảo sát nơi chốn khoảng giữa :

Trong khi tìm chỗ ở của tự ngã . . .

Dù trong khoảnh khắc thời gian .

c) Khảo sát chỗ đến cuối cùng

Tương tự , Chúng ta cần đi đến quyết định . . . Tất cả chỉ như diễn tả sừng thỏ .

2- Đạt đến kết luận xác quyết về : Sự không có tự tánh của những hiện tượng .

Phần này có bốn phần nhỏ :

a) Tìm kiếm căn cứ của sự đặt tên .

b) Phá hủy quan niệm những sự vật là thường còn và có hiện hữu thật .

c) Bàn luận những khuyết điểm tiềm ẩn của lợi và hại .

c) Phá đổ hang động giả dối của hy vọng và sợ hãi .

a) Tìm kiếm căn cứ đặt tên

Phần nhỏ này có hai phạm trù :

1-

Tìm kiếm những đối vật tối hậu cho sự đặt tên ,

Đạt đến kết luận xác quyết rằng chúng trống không .

2-

Chỉ cho thấy phương diện biểu lộ của hiện tượng hình tướng ;

Sinh khởi từ tánh Không như sự phô diễn liên kết duyên sinh như thế nào .

(1)

Tìm kiếm những đối vật tối hậu cho sự đặt tên ,

Đạt đến kết luận xác quyết rằng chúng trống không :

Trước hết ,

Tìm kiếm những đối vật tối hậu được gán cho những tên như vậy .

(2)

Chỉ cho thấy phương diện biểu lộ của những hiện tượng ;

Hình tướng sanh khởi từ tánh Không như :

Sự phô diễn của liên kết duyên sinh như thế nào .

Một lần nọ ,

Tôi gặp hiện thân như huyễn của trí huệ nguyên sơ Orgyan Tsokyey Dorje . . .

Nói thế xong ngài biến mất .

b)

Phá hủy quan niệm những sự vật là :

Thường còn và có hiện hữu thật .

Phần nhỏ này có ba phạm trù :

1-

Thuyết minh hư không toàn khắp ;

Không do tạo hợp có bảy thuộc tính .

2-

Chỉ cho thấy những hiện tượng hợp tạo :

Không có hiện hữu thật và bất biến như thề nào .

3-

Giảng giải , cắt đứt lưỡng lự về những lý do cần thiết ;

Để hiểu những hiện tượng là trống không .

(1)

Thuyết minh hư không toàn khắp và không do hợp tạo có bảy thuộc tính .

Một lần khác, bậc nắm giữ tánh giác nội tại Duddul Dorje nói với tôi . . .

Nó bao giờ cũng vô địch .

(2)

Chỉ cho thấy

Những hiện tượng hợp tạo là không có hiện

hữu thật và bất biến như thế nào .

Phạm trù này có ba đề mục :

(a)

Chỉ cho thấy những hiện tượng thực sự trống không như thế nào

Vì mọi sự vật khác bị vũ khí làm thương tổn . . .

Nói thế ngài biến mất .

(b)

Khảo sát sự đến và đi của những hình ảnh trong mộng ;

Và của sự sinh và chết để chắc chắn về điều này ;

Đã đạt đến một kết luận quyết định như vậy . . .

Bên ngoài hơn hay bên trong cũng không xác đáng .

(c)

Đạt đến một cấp độ quyết định :

Những sự vật có vẻ xác định chỉ là những hiện tượng hình tướng .

Tôi nói ,

“ Thưa thầy . . .

Tất cả chỉ là những hiện tượng hình tướng bề ngoài ” .

(3)

Giảng giải sự cắt đứt lưỡng lự về những lý do cần thiết để hiểu những hiện tượng là trống không

Phạm trù này có ba đề mục :

(a)

Chỉ cho thấy những lỗi lầm của sự bám chấp vào thân ,

Làm căn cứ chính cho sự sinh ra những quan niệm về có thật .

“ Thật là một sai lầm lớn lao ;

Khi không hiểu rằng cái biểu lộ như thân thể chỉ là . . .

Không có một mảy may hiện hữu nào trong đó ” .

Xoá sạch những ý niệm sai lầm đối với một kết luận xác quyết như vậy

“ Thêm nữa ,

Dù con hiểu . . . sự khác biệt giữa phẩm chất của vàng ” .

(b)

Chú tâm vào điểm then chốt ,

Liên kết với một phân tích chi tiết về trí huệ siêu việt –

Phương tiện của chứng ngộ .

Thuật ngữ “ Trí phân biệt ” .

Ám chỉ trí huệ đạt được qua phân tích…

Nói như thế xong ngài tan biến .

(c)

Bàn luận những khuyết điểm ẩn tàng của lợi và hại

Phần nhỏ này có ba phạm trù :

(1)

Nhận ra những nguyên nhân xác định những đặc tính

của lợi và hại

“ Vào một dịp khác ,

Tôi gặp lại thành tựu giả Saraha . . .

Quyết định về thật tánh của thực tại ” .

(2)

Khảo sát bản tánh cố hữu ;

Của những đối tượng giác quan biểu lộ như lợi hay hại

Phạm trù này có hai đề mục :

(a)

Khảo sát những hành động đức hạnh hay làm hại ;

Sẽ biểu lộ như lợi hay hại trong những đời tương lai .

Đề mục này có hai điểm :

(i)

Cách khảo sát hiện thực ;

“ Mọi đức hạnh thiện về thân và ngữ . . .

Sự kéo dài hiện hữu sinh tử ” .

(ii)

Những lý do khảo sát là cần thiết :

“ Nếu con không đi đến một kết luận quyết định . . .

Và kết luận quyết định này ” .

(b)

Khảo sát những thần linh và ma quỷ ;

Biểu lộ như lợi hay hại trong đời này

Đề mục này có hai điểm :

(i)

Cách khảo sát hiện thực

“ Hơn nữa ,

Khi cái được gọi là :

“ Những thần linh giúp đỡ và bảo vệ . . .

Không hiện hữu một cách khách quan ” .

(ii)

Minh chứng những hình tướng ;

Xuất hiện mê lầm như là những kinh nghiệm thoáng qua .

“ Con người dưới ảnh hưởng của mê lầm . . .

Thí dụ :

Đơn giản là một giấc mộng ” .

(3)

Giảng rõ ý nghĩa của chứng ngộ như vậy .

“ Điểm then chốt ở đây là . . .

Ngài biến mất khỏi tầm nhìn ” .

a)

Phá đổ hang động giả dối của hy vọng và sợ hãi

Phần nhỏ này có ba phạm trù :

(1)

Làm sụp đổ hang động giả dối ;

Xem Phật quả và những cõi tịnh độ phụ thuộc là :

Hiện hữu thật sự như những đối tượng của hy vọng .

Phạm trù này có ba đề mục :

(a)

Phủ nhận sự bám chấp vào việc quan niệm Phật quả ;

Và những cõi tịnh độ phụ thuộc giới hạn cứu cánh nào đó .

“ Vào một dịp khác tôi gặp Vajrapani . . .

Cho những hiện tượng có tự tánh ” .

(b)

Với mục đích đó ,

Khảo sát năm giác quan ;

Phủ nhận những đối tượng phụ thuộc và xem chúng là thật .

“ Cho dù chúng ta gán tên nó là gì . . .

Hơn những vị trời trong cõi sắc ” .

(c)

Nhận chân Phật quả trong ý nghĩa xác quyết và tối hậu .

“ Trong ý nghĩa rốt ráo, nền tảng của hiện thể . . .

Thấu hiểu điểm này ” .

(2)

Làm sụp đổ hang động giả dối ;

Xem những trạng thái của vòng sinh tử ;

Và những sướng khổ phụ thuộc là thật,

Như những đối tượng của sợ hãi .

“ Thêm nữa , thật vô lý . . .

Không có hiện hữu khách quan nào ” .

(3)

Mô tả bằng những từ nhiều ý nghĩa

Đáng ca ngợi một chứng ngộ như vậy .

“ Như thế nếu con đi đến kết luận . . .

Ngài biến mất khỏi tầm nhìn ” .

A-

Đưa nền tảng của hiện thể là hư không căn bản ;

Quy về một tánh giác hay trí huệ nguyên sơ đơn nhất tự hữu .

Phân đoạn này có ba phần :

1-

Cách hiện thực để đưa nền tảng này quy về

“ Theo như vậy , sau một thời gian . . .

Với những lời này ngài biến mất ” .

( Trọn chương VII )

2-

Hai cách thức giải thoát và mê lầm biểu lộ từ nền tảng này

Phần này có hai phần nhỏ :

a)

Một trình bày ngắn

Bảy năm sau , trong khi . . .

Nhận biết tánh giác vốn sẵn ” .

b)

Một giải thích dài

Phần nhỏ này có hai phạm trù :

(1)

Những phẩm tính tốt về mặt niết bàn hiện diện như là :

Những thuộc tính tự hữu như thế nào .

Phạm trù này có bốn đề mục :

(a)

Bốn thân và năm phương diện của tánh giác hay trí huệ nguyên sơ là :

Hoàn thiện và trọn vẹn như những thuộc tính tự nhiên ;

trong nền tảng của hiện thể như thế nào .

“ Nền tảng của hiện thể mình . . .

Trí huệ nguyên sơ thành tựu tất cả – Thành sở tác trí .

(b)

Bốn thân và năm phương diện của trí huệ nguyên sơ ;

Khởi hiện trong chính chúng và như :

Những trạng thái tự nhiên của con đường như thế nào .

“ Như vậy con đường đến giải thoát trong Phật quả . . .

Trí huệ nguyên sơ thành tựu tất cả ” .

(c)

Giải thích điểm đi lạc khi đi con đường của mình ;

Từ trạng thái thụ động của tỉnh giác .

Không thấu hiểu cách thể hiện .

“ Nhiều người không hiểu cách hiện hữu này . . .

Thế nên là đường lối khuyết điểm ” .

(d)

Nhận diện trí huệ siêu việt đối nghịch với tâm bình thường ;

Và những động tâm nên hiểu sự khác biệt ;

Giữa chứng ngộ và không chứng ngộ .

“ Thuật ngữ :

“ Trí huệ siêu việt biết thật tánh của những sự vật đúng như nó là . . .

Giọt nước rơi trên mặt đất khô .

(2)

Sự phô diễn của những hình tướng do mê lầm sinh tử

Diễn tiến ngẫu nhiên như thế nào .

Phạm trù này có ba đề mục :

(a)

Những hình tướng của năm nguyên tố

diễn tiến bên ngoài như thế nào

“ Khi khuôn mặt thật . . .

và năm nguyên tố biểu lộ không dứt ” .

(b)

Tám thức hợp tạo và những đối tượng phụ thuộc ;

diễn tiến bên trong như thế nào

“ Sau đây là bàn luận về . . .

Giấc mộng và trung ấm ” .

(c)

Toát yếu những điểm then chốt của những đề mục .

“ Một số người chủ trương . . .

Trên đỉnh cao của đời sống hữu vi ” .

(3)

Tóm tắt những điểm then chốt phần đoạn này

“ Như vậy ,

Thế giới của mọi hình tướng xuất hiện . . . ”

Ngài biến khỏi tầm nhìn .

B-

Bao gồm Sinh tử và Niết bàn ;

Vào trong một hệ biến hóa của sự tỏa khắp đồng nhất .

Không có kẻ hở và không thiên vị hay cực đoan .

Có hai phần :

1-

Từ phương diện biểu lộ của những hiện tượng hình tướng .

Thuyết minh sự tỏa khắp đồng nhất của chúng ;

Chỉ là những hình tướng xuất hiện như huyễn .

“ Lại một dịp khác ,

Khi tôi gặp Hungchhen – Kara . . .

Yoga tối thượng của huyễn” .

2-

Từ phương diện tánh Không ,

Thuyết minh sự tỏa khắp đồng nhất ;

Của bản tánh cố hữu của những hiện tượng không thật có .

Có hai phần nhỏ :

a)

Thuyết minh ngắn gọn :

Mọi sự được bao gồm bởi thật tánh duy nhất như thế nào .

“ Hãy xem xét sự kiện . . .

Thật tánh duy nhất của tâm ” .

b)

Giải thích rộng :

Bằng cách ;

Nói rõ nhiều phân nhánh của sự tỏa khắp đồng nhất .

Phần nhỏ này có ba phạm trù :

(1)

Nói rõ ,

Só sự tỏa khắp đồng nhất như là bản tánh thiết yếu của hiện thể ;

Vượt khỏi những đặc tính lợi và hại .

“ Bản tánh của tâm . . .

Hiện hữu để bị ngăn ngại ” .

(2)

Nói rõ ;

Sự tỏa khắp đồng nhất như là bản tánh thiết yếu của hiện thể ,

Vượt khỏi những tạo tác của tâm giới hạn .

“ Phương diện nền tảng của pháp thân . . .

Vẫn đang thường trụ” .

(3)

Nói rõ ;

Sự tỏa khắp đồng nhất làm mẫu mực ,

Cho ba lối đưa đến giải thoát .

“ Hơn nữa, nó là trống không . . .

Nói thế xong ngài biến mất khỏi tầm nhìn ” .

C-

Nhảy vào sự hiện diện tự nhiên tối thượng ;

Của những phẩm tính không cố gắng vĩnh cửu ;

Bổn nguyên và quang minh vốn sẵn

Có ba phần :

1.

Thuyết minh tổng quát ;

Xác quyết về phương tiện thiện xảo và trí huệ siêu việt .

“ Vào dịp khác ,

Trong kinh nghiệm thiền định về sự sáng tỏ toàn triệt .

Tôi gặp Manjushri . . .

Với các tướng nhất định ” .

2.

Giải thích chi tiết những phạm trù ,

Của những phẩm tính hiện diện tự nhiên .

Có năm phần nhỏ :

a)

Năm thân hiện diện tự nhiên như thế nào .

“ Sau đây là giải thích . . .

Và Con đường của phương tiện thiện xảo ” .

b)

Năm bộ Phật hiện diện tự nhiên như thế nào .

“ Sau đây là căn cứ để diễn tả . . .

Tương ứng theo kiểu mẫu này ” .

c)

Năm cõi tịnh độ hiện diện tự nhiên như thế nào .

“ Sau đây là một giải thích về năm cõi tịnh . . .

Được dùng ” .

d)

Năm vị Phật bổn nguyên hiện diện tự nhiên như thế nào .

“ Khi ánh sáng vốn sẵn bên trong . . .

Thành tựu của Nghĩa ” .

e)

Năm Dakini hiện diện tự nhiên như thế nào .

“ Tánh Không Kim cương tối hậu . . .

Thuật ngữ Dakini được dùng ” .

3-

Chỉ ra làm sao ;

Những loại phẩm tính đặc biệt là hoàn thiện ,

Và trọn vẹn trong cách chứng ngộ .

Có ba phần nhỏ :

a)

Những nhánh nghi thức ;

Liên hệ với chân lý tối hậu là hoàn thiện và trọn vẹn .

Phần nhỏ này có hai phạm trù :

(1)

Cách thức thật sự những nhánh này là :

Hoàn thiện và trọn vẹn .

“ Phương diện nền tảng của Pháp thân – Phật tánh . . .

Nói xong ngài biến mất ” .

(2)

Giá trị của sự nói rõ ;

Giai đoạn phát triển là một đường lối cho ,

Phương tiện thiện xảo ở cấp độ tương đối .

“ Vào dịp khác ,

Trong thị kiến tôi gặp Orgyan . . .

Nói xong ngài biến mất ” .

b)

Lối tiếp cận này là hoàn thiện và trọn vẹn ;

Trong những từ ngữ cao cả dành cho nó như thế nào .

“ Vào một dịp khác ,

Tôi gặp nữ hoàng cao cả . . .

Nói xong đức bà biến mất ” .

c)

Những phẩm tính những lối tiếp cận ;

Của chín thừa là hoàn thiện và trọn vẹn ,

Trong cách tiến bộ hướng lên như thế nào .

“ Tôi sẽ nói chi tiết hơn về lời giảng giải . . .

Trong những giai đoạn tiệm tiến ” .

II.

Áp dụng thực hành bằng thiền định

Có hai phần :

A.

Thuyết minh tổng quát ;

Thiền định không có khuôn khổ và quy chiếu .

“ Về sau , trong thị kiến ,

Tôi gặp vua của các vị nắm giữ hiểu biết Shri Simha ;

Tự tánh của những hiện tượng ” .

B.

Giải thích chi tiết những giai đoạn của thiền định chính thống ;

Và kinh nghiệm hậu thiền định .

“ Hiểu sự kiện này . . .

Tự do thoát khỏi tâm lý trí bình thường ” .

III .

Nâng cao chất lượng bằng hạnh

Có hai đoạn :

A.

Thực hành để không còn mắc những sai lầm ,

Trong sự phán xét do lạm dụng :

Cái thấy hoặc hạnh

“ Điểm then chốt của hạnh . . .

Và hoạt động của vòng sinh tử ” .

B .

Những điểm ;

Có thể làm lạc hướng khỏi con đường .

Có hai phần :

1.

Những điểm có thể lầm lạc ;

Về những kinh nghiệm thiền định phù du .

“ Những kinh nghiệm thiền định phù du ;

Trạng thái không tri giác ” .

2.

Những điểm có thể lầm lạc về những biến động .

“ Cũng như người ta có thể gặp những biến động . . .

Nói xong ngài biến khỏi tầm nhìn .

C.

Thuyết minh những cách khác của hạnh hoàn hảo

“ Vào một dịp khác ,

Trong thị kiến về sự biểu lộ tự xuất hiện ;

Của cõi thanh tịnh rốt ráo Akanishtha . . .

Trực tiếp làm cho chúng chấm dứt ” .

IV-

Làm thế nào ;

Quả trở nên rõ ràng .

Có hai phần :

A.

Giai đoạn thực sự :

Giải thoát rốt ráo như là quả

“ Trước tiên khai triển cái hiểu . . .

Sự phô diễn bình đẳng của ba thân ” .

B.

Những giáo huấn trao truyền trực tiếp phân biệt rõ ràng ,

Xác định không sai lầm những điểm then chốt .

Có bốn phần :

1.

Phân biệt rõ giữa :

Tâm bình thường và trí huệ vốn sẵn .

“ Hỡi đứa con của dòng giống cao cả ,

Đặc tính của tâm bình thường . . .

Tánh giác vốn sẵn và toàn khắp ” .

2.

Phân biệt rõ giữa :

Thức ý niệm hóa và trí huệ siêu việt ” .

“ Thuật ngữ Thức ý niệm hóa . . .

Thuật ngữ Trí huệ siêu việt tỏa khắp được dùng ” .

3.

Phân biệt rõ giữa :

Thức phiêu dạt và trí huệ nguyên sơ .

“ Thuật ngữ Thức phiêu dạt . . .

Trí huệ nguyên sơ bình đẳng vốn thanh tịnh ” .

4.

Phân biệt rõ giữa :

Nền tảng của kinh nghiệm bình thường ( A lại da ) và Pháp thân .

Có hai phần nhỏ :

a)

Phân biệt thực sự rõ ràng .

“ Do không nhận biết tánh giác vốn sẵn ;

của nền tảng của hiện thể . . .

Sự tỏa sáng hướng ra ngoài của sự không nhận biết ” .

b)

Tóm tắt những điểm then chốt .

“ Hiểu như vậy . . .

Ngài tan biến vào không gian căn bản ;

Của thật tánh của thực tại ” .

Phần Ba :

Kết Luận

“ Bản văn này được viết để đáp ứng . . .

Và đã biên tập bản thảo một cách tỉ mỉ ” .

Kết thúc bản văn .

Những Phân Tích và Phác Họa Cơ Cấu này được viết bởi Jigdral Yeshe Dorje (Đức ngài Dudjom Rinpoche) . [ Ghi chú của dịch giả Richard Barron có nói : Đức ngài Dudjom Rinpoche ( 1904-1987 ) là tái sinh của Dudjom Lingpa – Tác giả của cuốn sách này ] . Để đáp ứng lời yêu cầu của vị thầy Thubtan Gyaltsan , mong muốn giúp cho mọi người dễ hiểu trong việc giảng dạy khi ông làm giám đốc giáo huấn. HẾT