TÂM GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN – ĐẠI TOÀN THIỆN (Longchen Rabjam)

TÂM GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN – ĐẠI TOÀN THIỆN (Longchen Rabjam)

PHẬT TÂM
Một Hợp Tuyển Những Tác Phẩm của Longchen Rabjam về Đại Toàn Thiện
Nguyên tác: BUDDHA MIND
An Anthology of Longchen Rabjam’s Writings on Dzogpa Chenpo
Tulku Thondup Rinpoche – Snow Lion, 1989
Việt Dịch: Đương Đạo – Nhà xuất bản Thiện Tri Thức, 2000

TÂM GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN

  1. ĐẠI TOÀN THIỆN
    Sanskrit : Mahasan dhicittatasvanukti-nama .
    Tibet : rDzogs-Pa Ch’en-Po Sems-Nyid Rang-Grol

Phần này là một bản dịch trọn vẹn bản văn Tâm Giải Thoát Tự Nhiên. Nó là một của Ba Vòng nói về Giải Thoát Tự Nhiên trong Dzogpa Chenpo của Longchen Rabjam. Nó gồm ba chương. Chương thứ nhất là về những cái thấy, những tri kiến về “nền tảng”, chương hai về con đường thiền định, và chương ba về sự hoàn thiện quả. Trong phần này chúng tôi cố gắng giữ gìn chuỗi thứ tự những dòng kệ Tây Tạng trong bản dịch, nhưng có một số chỗ không thể tránh khỏi phải xáo trộn chữ từ dòng này sang dòng khác.

Kính lễ Phổ Hiền (Kuntu Zangpo)(1) Vinh Quang
Từ tinh túy(2) rốt ráo thanh tịnh siêu việt khỏi tư tưởng về đối tượng
Khởi lên như vầng sáng tĩnh lặng(3) tinh túy của bản tánh(4) tự nhiên thành tựu
Thanh tịnh khỏi những tính cách khác nhau của nhị nguyên người nắm bắt và cái được nắm bắt,(5)
Tâm,(6) thoát khỏi những phân biệt về phương diện và thiên chấp : con tôn kính quy mệnh.
Những hiện hữu hiện tượng là vô sanh, tự tánh bình đẳng ;
Trong đó thuần chỉ những hình tướng vốn tự giải thoát và tâm(7) thuần không có chút nắm bắt ;
Về vương quyền kỳ diệu này, Tâm Tự Nhiên Giải Thoát.
Hãy nghe khi tôi nói cho các bạn cái tôi đã chứng ngộ.

 

SỰ GIẢI THOÁT BẰNG CÁCH CHỨNG NGỘ NỀN TẢNG,”
chương một của
TÂM GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN, ĐẠI TOÀN THIỆN

Cái thấy rốt ráo thanh tịnh không có những cực biên hay trung tâm.
Nó không thể được chỉ ra bằng cách nói “Nó là cái này”, trong nó cũng không có bất kỳ phân biệt cao thấp
hay rộng hẹp nào,
Nó siêu vượt khỏi thường và đoạn, thoát khỏi những nhiễm ô của bốn khẳng định cực đoan.(8)
Tìm, sẽ không bao giờ tìm ra ; quan sát, nó không thể thấy.
Nó xa lìa phương hướng và thiên vị, siêu thoát khỏi mọi đối tượng của ý niệm.
Nó không có lập trường quan điểm, không phải không mà cũng chẳng không không.
Không có chứng ngộ và không chứng ngộ, không tính đếm, không mục tiêu đối tượng.
Tất cả mọi hiện tượng vốn thanh tịnh và giác ngộ một cách bổn nguyên,
Thế nên nó không sanh không diệt, không quan niệm và diễn tả.
Trong cõi giới(9) tối hậu, thanh tịnh và bất tịnh vốn là tự nhiên thanh tịnh và
Những hiện tượng là đại toàn thiện bình đẳng, lìa ý niệm vọng tưởng.
Vì không có trói buộc và giải thoát, trong đó không có đi, có đến, có ở.
Hình tướng và tánh Không là những quy ước đặt bày, người nắm bắt và cái được nắm bắt là huyễn hóa.
Hạnh phúc và khổ đau của sanh tử và niết bàn như những giấc mộng tốt và xấu.
Từ khoảnh khắc ban đầu xuất hiện, bản tánh của nó thoát khỏi mọi tạo tác.
Từ đó và trong nó, nhân quả duyên sanh của khởi diệt vĩ đại
Xuất hiện như một giấc mộng, như huyễn hóa, một ảo ảnh thị giác, một thành Càn Thát Bà,
Một tiếng vang, một phản chiếu, không có thực tại nào.
Mọi biến cố như sanh, trụ, diệt, trong thực tánh của chúng là vô sanh.
Thế nên chúng sẽ không bao giờ diệt cũng không chịu đựng đổi thay nào trong ba thời.
Chúng không đến từ đâu cũng không đi về đâu.
Chúng không trụ ở đâu : chúng như mộng như huyễn.
Một người ngu mê bị bám chấp vào hiện tượng cho là có thực,
Và nắm bắt chúng như những hiện tượng vật chất thô nặng, “tôi” và “bản ngã tôi”, trong khi
Chúng như một cô gái huyễn biến mất khi chạm đến.
Chúng không thật bởi vì chúng lừa dối và chỉ tác động như hình tướng xuất hiện.
Sáu cõi chúng sanh và những Tịnh Độ của chư Phật cũng
Không phải là những tập hợp của nguyên tử, mà chỉ là những tự-xuất hiện của những tâm chúng sanh.
Ví dụ, trong một giấc mộng chư Phật và những chúng sanh
Xuất hiện như là thật, với những đặc tính không thể nghĩ bàn.
Tuy nhiên, khi người ta thức dậy, chúng chỉ là một đối tượng thoáng chốc của tâm.
Mọi hiện tượng của sanh tử và niết bàn phải được thấu hiểu theo cùng cách ấy.
Không có tánh Không tách lìa với những hiện tượng
bề ngoài nào.
Cũng như lửa và sức nóng, những phẩm tính của lửa.
Quan niệm về sự tách biệt của chúng chỉ là một phân chia bởi vọng tâm.
Nước và phản chiếu của mặt trăng trong nước là một,
bất khả phân trong ao.
Cũng thế, những hình tướng(10) và tánh Không(11) là một trong Pháp tánh(12) vĩ đại.
Những hình tướng ấy là không sanh từ vô thủy, và chúng là Pháp thân.
Chúng giống như những phản chiếu, vốn tự nhiên không nhiễm ô và thanh tịnh.
Sự tạo tác của tâm ra hiện hữu và không hiện hữu của chúng là một ảo tưởng,
Thế nên chớ ý niệm hóa bất kỳ hình tướng nào sanh khởi ;
Những đối tượng xuất hiện ấy cũng là những phản chiếu của tâm.
Chúng như một khuôn mặt và hình phản chiếu của nó trong một tấm gương.
Trong khi vốn không làm gì có nhị nguyên, tri giác nhị nguyên là
Đặc tính tự nhiên của những kinh nghiệm của thói quen(13) từ vô thủy.
Tâm và những giấc mộng không tách lìa nhau,
Hơn nữa nó giống như sự xuất hiện của những giấc mộng với một người bị nhiễm độc bởi giấc ngủ.
Người ta phải biết rằng, không làm gì có một phân biệt căn bản giữa (chủ thể và đối tượng).
Chẳng hạn, giống như một đứa bé nhìn một tấm gương,
Người không biết thì lấy hay bỏ những đối tượng bên ngoài.
Khi một người mẹ thấy tấm gương, bà lau sạch nó ; tương tự
Thừa Nhân và Quả(14) biến đổi những đối tượng bên ngoài.
Một phu nhân, thấy nó, lau sạch mặt mình ; cũng thế
Người biết tánh Như(15) nhìn vào Tự Tâm.
Đây là Thừa Cốt Yếu, không hình tướng.
Trong tâm vốn vô tự tánh, những sự vật khác nhau
Khởi lên do những duyên như những phản chiếu
Xuất hiện trong một tấm gương hay trong đại dương.
Tinh túy tánh Không, bản tánh bất đoạn, và
Tính cách xuất hiện đa thù, trò phô diễn huyễn thuật, là
Sự phóng chiếu phân hai của sanh tử và niết bàn trong Nhất Tâm.
Nó giống như màu của một pha lê bị biến đổi bởi áo đen hay trắng.
Tinh túy thì không biến đổi, nhưng do những tri giác làm duyên như căn cứ của sự sanh khởi,
Những tri giác khác nhau có vẻ như thay đổi vào lúc chúng xuất hiện ;
Nhưng thực tế nó không thay đổi như sự thanh tịnh của pha lê.
Tâm vốn nguyên trống không, không có gốc rễ,
Nó không nhiễm ô bởi những hình tướng xuất hiện của sanh tử và niết bàn.
Suốt khắp ba thời từ vô thủy, trạng thái Phổ Hiền,
Tinh túy của sự toàn thiện bất biến tự nền tảng
Thì không bị nhiễm ô bởi những hình tướng của sáu đối tượng,(16) như trăng trong nước.
Với những hình tướng không hiện hữu của sanh tử niết bàn như một trò huyễn thuật,
Chớ nỗ lực phân biệt lấy bỏ, phủ nhận và bảo vệ, hay hy vọng và e sợ.
Đạt giải thoát bằng cách biết bản tánh của trò phô diễn huyễn thuật :
Đó như là, thấy đạo quân của huyễn hóa thì người ta bị bắt vào, nhưng
Do biết thực tại, không có gì sợ hãi. Cũng thế
Không cần thiết phải nhất thiết từ chối những hình tướng đối tượng.
Bản tánh của sanh tử là tinh túy của tâm,
Nó vốn nguyên là không sanh và giác ngộ,
Thế nên bằng cách thấy Tâm, sự chứng ngộ bản tánh của toàn bộ đời sống đạt được.
Bấy giờ không có Thái Bình nào khác để thành tựu.
Đó như sợ hãi những lực lượng của chính mình lầm cho là của những ai khác,
Rồi sau, nhận biết chúng, người ta cất khỏi gánh nặng.
Giờ đây do sự ban phước của Đạo Sư vinh quang,
Những tư tưởng thế gian được chứng ngộ là Pháp thân. Thế nên
Đại Lạc tự nhiên sanh khởi bên trong vô tận.
Không cần gì chấp nhận hay chối bỏ vì tất cả hiện tượng hiện hữu sanh khởi như là Đạo Sư.
Mọi giáo huấn không bao giờ vơi cạn là sự nâng đỡ cho giác ngộ.
Sự thỏa mãn trong An Lạc không bao giờ chấm dứt.
Tất cả là hạnh phúc, phổ khắp trong Pháp tánh, từ đó
Trò chơi biến đổi không ngừng của những hiện tượng là
Sắc thân(17) vốn tự viên thành và Pháp thân, những hình tướng xuất hiện và tánh Không, hai sự tích tập
Phước-Huệ,
Phương tiện thiện xảo và trí huệ, thiền định và ra khỏi thiền định,
Tất cả vốn tự viên thành một cách tự nhiên.
Năm Thân và Năm Trí Bổn Nguyên tự nhiên không do chế tạo
Được hoàn thiện trong trạng thái của Tánh Giác Bổn Nhiên, không chỗ bám níu cho tri giác và thức.
Những địa, những con đường, sự gom tụ và tham thiền –
Những phẩm tính – là tự nhiên hoàn thiện trong tinh túy Pháp tánh.
Tánh Giác Bổn Nhiên tự-khởi vĩ đại không thiên trệ
Không thoái hóa biến chất bởi một (đối tượng) được nắm bắt và không ràng buộc bởi một chủ thể.
Nó giống như bản tánh của huyễn hóa, bất nhị và thanh tịnh.
Thế nên ích gì mà suy tính, luận bàn hay tham thiền ?
Không có gì là những giai đoạn phát triển và thành tựu, không nhị nguyên, không hợp nhất,
Không quan điểm hay phân chia các Thừa.
Tất cả những cái ấy đều là những quy ước và vẽ vời của tâm thức.
Tất cả là trạng thái tự-hữu và vốn tự-giải thoát.
Tánh Giác không có điểm nhắm và không thể định nghĩa như “nó là cái này”,
Thế nên chớ cố gắng nắm hiểu nó, suy nghĩ đây kia, vì nó siêu vượt tâm thức.
Tâm thì không làm và vốn toàn thiện ;
Chớ làm méo mó nó bằng những đối trị sửa sang và chuyển hóa : hãy để nó thong dong.
Nếu Pháp tánh, trong đó chứng ngộ và không chứng ngộ là bình đẳng,
Không bị biến chất hư hỏng vì bám nắm nó bằng những rào lưới tham thiền,
Bấy giờ trong nghĩa tối hậu không có “là” hay “không là”, không có hiện tượng hay tánh Không.
Nó không thể được định nghĩa như là “một và nhiều” và v.v….
Nó siêu vượt cái thấy và thiền định, thoát khỏi khẳng định và phủ định, không đến không đi,
Tự do với những cực đoan, bất nhị, như huyễn hóa và một giấc mộng.
Mục đích của hai chân lý(18) là ngừa tránh sự bám chấp cho là có thực.
Trong thật nghĩa vốn không có tuyệt đối và tương đối.
Những sự vật không hiện hữu như chúng được lý giải,
Vậy mà người ta bị trói buộc trong mạng lưới của sự nắm hiểu chúng như là “cái này đây”.
Bất cứ cái gì người ta khẳng định, họ sẽ rơi vào những cực đoan của bám chấp ;
Và qua những nỗ lực và những thành tựu, sanh tử sẽ không ngừng.
Nghiệp tốt và xấu làm cho lang thang trong thế giới này,
Và những kinh nghiệm hạnh phúc và đau khổ, cao và thấp, như sự quay tròn của một guồng nước.
Trong sanh tử của ba thời, chúng sanh của ba cõi lang thang trong mê vọng ;
Họ bị hành hạ bởi bệnh vô minh, những tạo tác và nỗ lực –
Không có bắt đầu hay chấm dứt cho nó – ôi đáng thương cho những chúng sanh !
Kye Ho ! Tất cả chỉ như mộng và huyễn.
Trong nghĩa tối hậu không có sanh tử và ai lang thang trong đó.
Tất cả vốn là giải thoát trong cảnh giới Phổ Hiền.
Không làm gì có căn cứ, gốc nguồn hay bản chất. Thỏa mãn biết bao nhiêu !
Tâm không biến cải, xưa nay thanh tịnh
Không bị nhiễm ô bởi những hiện tượng của hiện hữu : đó giống như một phản chiếu.
Trong đối tượng xuất hiện không có gì được ý niệm hóa để nắm bắt ;
Trong bản tâm tự hữu, không có gì để được quan niệm là người nắm bắt.
Trí huệ bổn nguyên bất nhị này thường trụ ngoài những tri giác nhị nguyên.
Bởi thế, tâm bất đoạn và đối tượng của nó là đại biểu tượng.
Con voi của bất thủ (không nắm bắt) rong chơi tự do trên cánh đồng bằng
Từng bước của Tự-Giải Thoát, trang sức bằng uy quyền của bất nhị.
Nó hủy hoại đầm lầy của lấy bỏ, hy vọng và nghi ngờ….
Nó sở hữu sức mạnh của chứng ngộ và đi vào đại dương bất nhị.
Nó lang thang tự do mà không có những phần đoạn khác nhau giữa sanh khởi và giải thoát,
Và không bị trói buộc bởi những sợi thừng của những đối tượng để đoạn trừ và những đối trị.
Nó tự do nắm giữ quan điểm thành tựu đầy quyền uy.
Bằng cách thành tựu trọn vẹn quyền năng vĩ đại, thế giới hiện tượng khởi sanh là Pháp thân.
Khi những tri giác của sáu đối tượng là không dứt và người tri giác rốt ráo trống không,
Và Tâm thoát khỏi những cực đoan đạt đến tự do không mục đích,
Bấy giờ Tánh Giác Bổn Nhiên của sự bất nhị giữa sanh tử và niết bàn đạt đến Địa nguyên sơ,
Đó gọi là sự chứng đắc Phật tánh.
Vì là sự hoàn thành tuyệt hảo mục tiêu của bản thân mình và của những người khác,
Nó là sự chứng đắc giác ngộ trong Tịnh Độ không gì sánh.
Than ôi ! Những người tham thiền giống như thú vật
Ngừng dứt những tri giác và ở trong chỗ không có tư tưởng nào.
Họ gọi đó là bản tánh tuyệt đối và trở nên kiêu căng.
Do đạt được kinh nghiệm trong trạng thái (tập trung) ấy, họ sẽ tái sanh vào cõi thú.
Dù cho họ không lọt vào kinh nghiệm đó, họ cũng không thoát khỏi tái sanh vào định Sắc và Vô Sắc giới.
Sẽ không có cơ hội để giải thoát khỏi sanh tử luân hồi.
Thế đấy, những người kiêu căng cùng cực,
Họ bị con ma quan điểm phá hoại của họ ám nhập,
Đi theo những giáo lý do thức tạo tác và làm mê lầm.
Bởi vì những tạo tác ô nhiễm của họ, họ sẽ không thấy Pháp Tánh.
Dù họ có phân tích Hai Chân Lý, họ cũng sẽ rơi vào thường và đoạn.
Dù họ có phân tích cái tự do thoát khỏi những cực biên, họ cũng sẽ chỉ khám phá cái thấy tột đỉnh của sanh tử.
Dù họ có làm gì, vì sự nô lệ vào quan điểm của họ,
Họ sẽ không bao giờ thực sự thấy Trí Huệ Bổn Nguyên
tự nhiên.
Nghĩa thực sự thì không bị che ám bởi suy tính, diễn tả và những ý niệm.
Do không hiểu những đường lối đích thực của suy tính, kinh nghiệm và ý niệm hóa,
Sai lầm xảy ra khi xoay chuyển nghĩa của đối tượng tìm kiếm thành những nỗ lực của người tìm kiếm.
Tâm và trí huệ bổn nguyên giống như nước và tánh ướt của nó :
Trong mọi thời không có sự chia tách giữa chúng,
Nhưng chúng bị làm hỏng vì những phân biệt của lấy bỏ thức tâm.
Tâm và đối tượng của nó, bất kỳ cái gì xuất hiện, chính là bản tánh thiết yếu,
Nhưng do thiên vị nắm bắt, tánh rỗng rang khai mở của nó bị ngăn chặn.
Bây giờ, nếu các người muốn nghĩa của Pháp thân thoát khỏi ý niệm hóa(19)
Chớ nỗ lực tìm kiếm bản tánh bổn nhiên.
“Vương quyền của bất kỳ cái gì sanh khởi” đình chỉ lập tức những bám luyến và ý niệm,
Không phân biệt, không “biết” theo như “nó là cái này”,
Trong nó những hiện tượng không hiện hữu như là chúng có sanh khởi.
Trong bản tánh của chúng, chúng không hiện hữu như chúng có vẻ là thế.
Tri giác bình thường, vốn vô ngại và giải thoát từ vô thủy,
Là cái thấy của Đại Toàn Thiện Tự Nhiên.
Bản tánh của những hiện tượng được ví như hư không,
Nhưng những hiện tượng là không thể quan niệm, như bản tánh của hư không,
“Tâm thì không sanh và những hiện tượng như hư không”
Chúng ta nói thế, nhưng đó chỉ là chỉ định và đặt tên.
Nó tự do khỏi “là” và “không là”, vượt khỏi tư tưởng.
Nó không thể được chỉ định bằng cách nói “Đây là”, và nó vốn toàn thiện từ vô thủy.
Kye Ho ! Trong bản tánh thanh tịnh của hiện hữu hiện tượng
Là Tánh Giác Bổn Nhiên thanh tịnh, không nắm bắt và đốn giác hiện tiền.
Từ tối sơ khởi hiện, nó không hiện hữu nơi đâu.
Đại Toàn Thiện vốn tự giải thoát – khi nào tôi sẽ có thể thấy nó ?
Trong Tâm không gốc rễ, không chỗ trụ, thanh tịnh vốn xưa nay,
Không có cái gì để làm và không có ai để làm – thỏa mãn biết bao !
Tánh Giác Bổn Nhiên của những hiện tượng không mục đích,
Trong đó nắm hiểu luận bàn đại loại “nó là thế, là kia” tan biến – hạnh phúc biết bao !
Trong cái thấy và thiền định tuyệt nhiên không phân biệt,
Không rộng hay hẹp, cao hay sâu – thích thú biết bao !
Trong hạnh và quả tuyệt nhiên không có lấy bỏ, mong và nghi,
Không có cái gì để đắc, không có cái gì để mất – ấm áp biết bao !
Trong bản tánh hoàn toàn bình đẳng như huyễn,
Không có tốt để lấy và xấu để bỏ – tôi cảm thấy tức cười !
Trong những tri giác mờ ảo, mau phai, không xác định,
Chắp vá, không liên tục, không ngăn ngại và tự nhiên,
Bất cứ cái gì xuất hiện, không có sự nắm bắt “nó là cái này” hay “đây là những hình tướng này”.
“Là” và “không là” là tâm nắm bắt ; và viễn ly tâm ấy là Pháp thân.
Khi trong đối tượng không mục đích, những hình tướng bất định khởi sanh,
Cái biết không nắm bắt đạt vào giải thoát mà không có nhị nguyên ;
Bấy giờ tất cả những hiện tượng của tri giác là trò chơi vĩ đại của Tâm.
Trong Tâm vốn giải thoát khỏi nền tảng, gốc rễ và bản chất,
Những phẩm tính tự nhiên không từ chế tạo vốn hoàn thiện trọn vẹn.
Bằng cách giải thoát chối bỏ và chấp nhận vào trong Pháp thân, hạnh phúc sẽ thành tựu.
Tất cả những ý niệm luận bàn là những thứ chế tạo.
Nếu bất cứ cái gì sanh khởi mà thoát khỏi sự ý niệm hóa, thì chính nó là Trí Huệ Bổn Nguyên đích thực.
Bằng cách giải thoát lấy và bỏ trong trạng thái của chính nó, hạnh phúc sẽ thành tựu.
Bằng cách giải thoát lấy và bỏ trong trạng thái của chính nó, đối tượng của tư tưởng được siêu thoát.
Với Phật tánh vốn thanh tịnh rốt ráo và tự nhiên,
Chớ tìm kiếm ở đâu khác ngoài tự tâm các người.
Ngoài chính người tìm kiếm không có nơi tách biệt nào khác để tìm kiếm.
Đấy như giai cấp của người huyễn và nước trong một ảo ảnh.
Không có nhị nguyên của sanh tử và niết bàn khi sự nắm hiểu nhị nguyên
Đã dừng dứt trong Tánh Giác Bổn Nhiên tự hữu không biến chất.
Ai thấy nghĩa bình đẳng của tất cả những hiện tượng
Và chứng ngộ Tâm là vô sanh như bầu trời
Thì thành tựu những hiện tượng thế giới và chúng sanh là cảnh Phật thanh tịnh tự nhiên,
Trạng thái bình đẳng của sự thành tựu tự nhiên vô sanh.
Tinh túy của những hình tướng và tâm là tánh Không, và đó là nghĩa của Pháp thân ;
Bản tánh của nó là không dứt, và đó là sự xuất hiện của Báo thân ;
Những tính cách của chúng thì đa dạng và đó là Hóa thân.
Hiểu biết như thế,
Mọi sự là Ba thân, Trí huệ Bổn Nguyên và Tịnh Độ.
Không làm gì có sự sửa sang, chuyển hóa, từ bỏ và đối trị, thế nên hoàn toàn mãn nguyện.
E Ma ! Chúng sanh do bám chấp vào nhị nguyên ta – người,
Khi họ ở trong sanh tử ảo huyễn như mộng,
Bất cứ nỗ lực nào họ làm đều là những nhân và những quả của sanh tử.
Bằng cách kinh nghiệm nền tảng phổ quát(20) vô niệm, họ lạc vào cõi Vô Sắc ;
Kinh nghiệm thức sáng tỏ – trống không của nền tảng phổ quát, họ lạc vào cõi Sắc ;
Kinh nghiệm sáu thức, họ lạc vào cõi Dục.
Những biến đổi của tâm là những bước đến những cõi khác nhau của sanh tử luân hồi.
Với người muốn giác ngộ, nghĩa của cái tuyệt đối không biến cải
Là để cho tâm thong dong không nỗ lực.
Tâm bình thường, không biến cải và tự nhiên,
Không nhiễm ô bởi nắm bắt sanh tử và niết bàn, đạt giải thoát trong trạng thái tự nhiên của nó.
Đạt giải thoát theo cách ấy, an trụ trong bản tánh khoảnh khắc hiện tiền
Mà không có tư tưởng là trạng thái của Pháp thân ;
Nền tảng bất đoạn của sanh tử, sáng tỏ và tánh Không là Báo thân, và
Sự lưu xuất, giải thoát ngay khi sanh khởi là Hóa thân.
Với xác tín tự tin vào điều đó
Chắc chắn những tư tưởng thế gian sẽ được giác ngộ.
Kye Ho ! Bởi vì tính cách của những hình tướng và của tâm là biến đổi,
Hãy nhìn vào tấm gương của Pháp thân vô trụ.
Sự sanh khởi của không-người-nắm-bắt trong những hiện tượng không mục đích
Là bí mật của tâm ; không có cái gì khác có ý nghĩa.
Đó là tính cách tự nhiên của Tánh Giác Bổn Nhiên vốn tự toàn thiện, nghĩa thiết yếu của bất cứ cái gì sanh khởi ;
Chớ có tạo ra những sửa sang và biến dạng.
Những hiện tượng là tánh chất của vô tự tánh.
Bầu trời của tâm không-nắm-bắt không có trung tâm hay chỗ hết.
Dù chúng khởi sanh tự nhiên mà không có sự sanh ra hay diệt mất,
Sự vắng tuyệt bác bỏ, khẳng định và bám luyến vào những tính chất, đó chính là thực nghĩa ;
Và chúng không biến đổi suốt hết cả ba thời – điều này người ta cần biết.
Trí huệ bổn nhiên vốn sẵn, thoát khỏi nhị nguyên cái được tri giác và tâm
Chỉ có thể có ý nghĩa bằng cách chứng ngộ nó, nhưng không có cái gì được chỉ ra và không có gì để thấy.
Tâm tuyệt đối thì đẹp đẽ trong trạng thái tự nhiên của nó.
Bằng những phương tiện khác nhau – tham thiền không dao động, trí huệ phân tích và
Những giới điều, hiểu biết trí thức và những giáo huấn – người ta sẽ chỉ đạt được cái hiểu lý thuyết,
Nhưng người ta không bao giờ thành tựu Trí Huệ Bổn Nguyên trần trụi.
Chẳng hạn, dù cho người ta có chỉ ra, “Đây là hư không”,
Thì nó không phải là một vật có thể thấy, thế nên đó chỉ là một cách để phân biệt, chia rẽ.
Sự khởi lên của chứng ngộ qua lòng tốt của Lama thì
Giống như mặt trời xua tan bóng tối.
Khoảnh khắc người ta thấy tất cả là Pháp thân bởi Trí huệ Bổn Nhiên trực tiếp hiện tiền,
Vô minh được chuyển thành Trí Huệ Bổn Nguyên và những nhiễm ô thành những dấu hiệu (của Năm
Trí Huệ Bổn Nguyên).
Người ta cần hiến mình (cho thực hành) bằng mọi phương tiện mà không dao động.
Những chứng đắc chung và không chung sẽ thành tựu trong đời này.
Những người ngu ghét sanh tử và tìm niết bàn.
Đó cũng như ném bỏ một viên ngọc như ý rất hiếm có,
Lấy một viên ngọc như ý khác cần chùi sạch,
Và sau khi chùi nó, kiếm chung quanh để đổi lấy một món nữ trang rẻ tiền.
Tâm tự-giải thoát, viên ngọc quý báu,
Bằng cách chứng ngộ tự tánh của nó sẽ chùi sạch những vết bẩn mê lầm.
Hiểu rằng nó là kho báu của muôn vàn đức hạnh
Và là trái tim của sự hoàn thành lợi lạc cho bản thân và những người khác.
Khi sự chứng ngộ nghĩa của Tâm khởi hiện
Như những sóng và nước, những phóng chiếu và an trụ đều ở trong trạng thái của Pháp thân.
(Bấy giờ) bất cứ cái gì xảy ra, không cần từ chối hay
chấp nhận.
Không bao giờ cần một thực hành từ chối hay chấp nhận nào.
Trong mọi thời với người yogi vui vẻ
Nó là yoga ‘dòng sông vĩ đại miên man’,
Trong trạng thái của bản tánh toàn thiện vĩ đại hoàn toàn bình đẳng.
Ngay khi chứng ngộ hiện khởi, (tâm) trở nên trong trẻo và sáng ngời tự nhiên.
Dù khi có trở lại sự phóng chiếu, nó sẽ ở trong Pháp tánh như cũ
Vì Tánh Giác Bổn Nhiên quang minh không có những cực biên và trung tâm,
Không có nhị nguyên của những ô nhiễm và những đối trị.
Như vậy, những sự vật để từ bỏ, những đối trị, xa lìa, chứng đắc, hy vọng và nghi ngờ, đều được giải thoát trong trạng thái tự nhiên của chúng.
Người không biết làm sao phân biệt ngọc và đèn
Nghĩ rằng ánh sáng đèn là ánh sáng của ngọc.
Nếu người ta không phân biệt định và những kinh nghiệm của sự tự-giải thoát,
Bấy giờ y sẽ bị trói buộc bởi tham luyến vào sự giải thoát khỏi ngay chính sự sanh khởi.
Nếu người ta không phân biệt giữa những kinh nghiệm và chứng ngộ,
Nó sẽ bị mê lầm do bám trụ vào những kinh nghiệm cho là chứng ngộ.
Sau khi chứng ngộ, trong mọi thời gian không có những thay đổi của tốt và xấu.
Do đạt được kinh nghiệm về điều đó, những kinh nghiệm đức hạnh khởi lên.
Ví như hư không, trong đó bốn đại thay đổi,
Không chịu bất kỳ biến chất nào : hư không vốn nguyên như cũ.
Cũng thế, đối với yogi đã chứng ngộ Tâm,
Không có chứng ngộ hay và dở do tăng hay giảm của những kinh nghiệm.
Nếu có cái hay và dở, thì đó là kinh nghiệm, không phải là chứng ngộ.
Chứng ngộ thực sự phải được tìm thấy ở một bậc thánh.
Sau đó, thuận theo (những lời dạy của ngài) người ta cần an trụ trong tham thiền,
Thiền định về nó là cái thấy tuyệt đối rốt ráo.
Thấy nó, người thượng căn sẽ đạt giải thoát.
Không dựa vào những kinh nghiệm tri giác, mọi sự sẽ khởi sanh như là chứng ngộ.
Không có cái gì để từ chối, thế nên không có đối trị nào để thiền định,
Như với một người khỏe mạnh thì thuốc thang chẳng cần.
Như thế, các bạn cần học cái thấy không nắm bắt, thoát khỏi thiên chấp.

GIẢI THOÁT QUA KINH NGHIỆM VỀ CON ĐƯỜNG
cho người trí năng trung bình và kém
chương hai của
TÂM GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN, ĐẠI TOÀN THIỆN

Trong thiền định, nó là tự-toàn thiện vĩ đại tự nhiên,
Không cần những sửa sang chỉnh trị và chuyển hóa : bất cứ cái gì khởi sanh đều là Đại Toàn Thiện.
Không cần chấp nhận và từ chối, khi trong chính trạng thái bổn nguyên
Thế giới và chúng sanh của sanh tử và niết bàn an trụ như như bình đẳng.
Trong “Tánh giác Rigpa Bổn Nhiên bất cứ cái gì sanh khởi đều là Nó”, sáu thức tự phát,
Hãy hộ trì “Tánh Giác Rigpa không do tạo tác” như một đứa bé.
Nếu các bạn ở trong trạng thái vô trụ qua sự viễn ly tâm thức
Các bạn sẽ thành tựu một cách tự nhiên và không biến đổi, vương quyền bất khả tư nghì.
Trong “tâm bình thường”, không sanh tạo và tự nhiên,
“Tâm tự nhiên” như nước đổ vào trong nước,
Hãy hộ trì “tâm bất nhị” rỗng rang với những tạo tác và biến dạng ;
Nơi “tâm không nỗ lực” thường trụ trong Pháp tánh bao la.
Trong sự rỗng rang tự do bổn nhiên, sự thanh bình của tâm,
Hãy lưu lại tự nhiên và lịch thiệp như một người già.
Qua trạng thái vĩ đại của tự-khởi, trong đó không có sự tuân thủ những thời kỳ thiền định,
“Tánh Giác Bổn Nhiên tự-giải thoát” vĩ đại và lơ là đang ngự trị.
Trong “Tánh Giác Bổn Nhiên không mục đích” nó là đại vô ngại,
Hãy hộ trì “Tánh Giác Bổn Nhiên không nắm bắt” như một người điên.
Qua “Tánh Giác Bổn Nhiên tự giới luật” nó không có mảy may phân biệt,
Những hoàn cảnh xấu khác nhau khởi sanh như trò chơi của Pháp tánh.
Những tri giác khác nhau là tự tâm mình, sự phô diễn thần kỳ của Tánh Giác Bổn Nhiên ;
Hãy an trụ không sợ hãi như sư tử.
Qua đại Trí Huệ Bổn Nguyên, người nghiến nát những tri giác mê lầm,
“Tánh Giác Bổn Nhiên tự nhiên sanh” khởi hiện như là tự-giải thoát vĩ đại.
Cho đến khi người ta đã hoàn toàn đạt được tinh túy của chứng ngộ,
Hãy tham thiền như với đôi mắt của chó sói, không có những khác biệt của đêm ngày.
Bằng cách đạt kinh nghiệm và sự quen thuộc, nếu mẹ (trạng thái hoàn toàn giác ngộ) và con (sự chứng ngộ của con đường) được hợp nhất,
Mọi sự sẽ khởi sanh đồng thời trong vô tư vĩ đại.
Trong “Tánh Giác Bổn Nhiên không thiên trệ” nó không có ở giữa và những cực biên,
Không có sự chỉ định như “nó là cái này”, hãy an trụ như hư không.
Bấy giờ ý nghĩa của “Tánh Giác bổn nhiên không thiền định”, không do tạo tác và không biến chất,
Nó là “Tánh Giác Bổn Nhiên tự sanh khởi”, sanh khởi bên trong một cách tự nhiên.
Trong sự tẩy sạch tự nhiên vĩ đại, thoát khỏi sự làm bẩn của những nhiễm ô,
Hãy hộ trì “Tánh Giác Bổn Nhiên tự nhiên sáng tỏ” như đại dương.
“Tánh Giác Bổn Nhiên giải thoát-ngay-khi-sanh-khởi” khởi hiện như những sóng lớn, như
Một khuôn mặt trong tấm gương và sự phản chiếu của những vì sao.
Trong Tâm bất động và bất biến, hãy hộ trì Pháp tánh thường trụ như núi Tu Di.
“Tánh Giác Bổn Nhiên toàn thiện đồng thời”, tự nhiên toàn thiện và không hợp tạo,
Trung tính (của tốt và xấu) và sự bất nhị của những hành động và nỗ lực sẽ được thành tựu tự nhiên.
Trong Tâm Bẩm Sinh tự-khởi sanh và tự-giải thoát,
Hãy an trụ không ngừng như một dòng sông.
Bất cứ tư tưởng nào sanh khởi sẽ cùng một vị Pháp thân :
Không cần gì phải lấy-bỏ, tất cả là ở trong niết bàn trọn vẹn.
Tóm tắt, trong bất cứ cái gì sanh khởi, trò chơi của Pháp tánh,
Tự do khỏi ý niệm và tham thiền tự-giải thoát được hoàn thành một cách tự nhiên.
Bằng cách kéo dài thiền định không cách hở,
Người ta cần tu hành những thực tập của chứng ngộ mà không có biếng lười.
Để cho “sự tiến bộ” của thực hành này, nó là chỗ nương dựa con đường,
Với “những hành động của người huyễn”, thoát ngoài lấy bỏ,
Để chuyển những biến cố bất lợi vào con đường, và để hợp nhất thiền định và xuất định,
Hãy đi đến những đỉnh núi, nghĩa địa, đảo nhỏ và bãi chợ….
Những nơi chốn làm cho tâm dao động,
Và hãy để cho thân nhảy nhót, miệng hát những bài ca,
Và tâm phóng chiếu đủ thứ tư tưởng :
Hãy nấu chảy chúng hòa với cái thấy và thiền định của
tự-giải thoát khoảnh khắc.
Bấy giờ mọi sự khởi sanh chính là con đường.
Thỉnh thoảng hãy làm sự thực hành sùng mộ (tri giác) những hiện tượng là (mạn đà la của) Lama,
(Và sự thực hành) tích tập công đức, tịnh hóa những nhiễm ô, và tham thiền về vô thường,
Tất cả những hiện tượng hiện hữu bản tánh đều là mộng và huyễn.
Chúng như một tiếng vang, một ảo ảnh, một phản chiếu và một hóa hiện thần thông.
Và như một ảo tưởng thị giác và phản chiếu của trăng trong nước, bản tánh của chúng là trống không.
Hãy tu hành những hình tướng đa thù là không thật và mờ ảo,
Một cách tức thời, không phân biệt nhận dạng chúng.
Đã tu hành những thực tập thiền định và xuất thiền định suốt ngày đêm không đi lạc,
Trong trạng thái của lạc, sáng tỏ và vô niệm, (chúng) vốn giải thoát-ngay khi-khởi sanh và tự nhiên hiện tiền,
Thiền định tự-trụ (tiến bộ) không ngừng.
Bằng cách làm tan biến những giấc mộng huyễn hóa vào trong (bản tánh) không thực và sáng ngời của chúng,
Ngày và đêm, sanh tử và niết bàn được giải thoát trong thực tánh của chúng.
Bằng cái thấy người ta mở rộng sự kéo dài, bằng thiền định người ta ngăn che dao động,
Bằng những hành động người ta đương đầu với những hoàn cảnh,
Và bằng những kết quả người ta tự bảo vệ không rơi vào những lầm lỗi.
Bản tánh của chứng ngộ, Trí Huệ Bổn Nguyên vô niệm,
Thường trụ trong mọi thời gian không biến đổi.
Vào lúc đó, thuần chỉ bản tánh đơn nhất, trạng thái bổn nguyên ;
Trong “trạng thái-không-thiền định” đó, người ta được bảo đảm chân thường.
Sau đó, sẽ không có quả nào hơn, Đại Lạc, để tìm kiếm,
“Tánh Giác Bổn Nhiên bất cứ cái gì sanh khởi đều là Nó” là Ba thân vốn tự viên thành.
Không một nỗ lực, sự lợi lạc của mình của người đều thành tựu.
Chỉ hiện tiền Tánh Giác Bổn Nhiên, đầy đủ mọi phẩm tính, công đức và thoát khỏi những phân biệt.
Như thế, một yogi đạt giải thoát chỉ trong đời này,
Làm tan biến địa đại vào trong nước, nước vào lửa, lửa vào không khí, không khí vào thức, và thức vào Tịnh Quang(21) sáng rỡ.
Rồi, hợp nhất với Trí Huệ Bổn Nguyên và Pháp Giới
Bảo đảm chân thường trong trạng thái của tánh bổn nguyên.
Vì lợi lạc cho những người khác, như một giấc mộng,
Trí huệ bổn nguyên và Hai thân(22)
Xuất hiện với chúng sanh, như những phẩm tính của mục tiêu (làm lợi lạc cho những người khác).
Đây là bản tánh của Trí Huệ Bổn Nhiên, bí mật của tâm,
Và tự-giải thoát tức thời tối thượng. Do chứng ngộ nó
Sự khai triển bao la những đức hạnh là giống như
Mặt trăng non ngày mồng một đến mặt trăng ngày rằm,
Khiến cho đối với người ta có vẻ như mặt trăng tăng trưởng,
Trong khi thực sự không có tăng hay giảm. Cũng thế
Dù cho người ta thấy khuôn mặt của sự chứng ngộ và tăng trưởng năng lực của thiền định,
Sự chứng ngộ thì không biến đổi, và tuy nhiên những công đức của kinh nghiệm khởi lên.
Vì sự sáng tỏ của mặt trăng, bóng tối trên mặt trăng có vẻ nhỏ lại,
Hay vì bóng tối trên mặt trăng nhỏ đi, mặt trăng có vẻ lớn lên. Cũng thế
Bởi vì sự lìa xa khỏi nắm bắt nhị nguyên, kinh nghiệm và chứng ngộ có vẻ tăng trưởng. Hay
Bởi vì sự tăng trưởng của chứng ngộ, những nhiễm ô có vẻ bớt đi.
Dù cho người ta hoàn thiện những đức hạnh từ bỏ và chứng ngộ,
Tinh túy không đổi thay và bản tánh thì không dứt,
(Vì) Pháp tánh vốn thanh tịnh và giải thoát khỏi mọi điều kiện nhân duyên.
Tóm tắt, nếu những nhiễm ô không khởi lên như là hiện thực,
Bấy giờ sau khi từ bỏ năm độc sẽ không có con đường tuyệt hảo chuyển tiếp nào (để theo).
Nếu các bạn không biết bí mật của sự tự-giải thoát (của tất cả vào trong một) Thân đơn nhất,
Bấy giờ các bạn sẽ bị mê lầm bởi nắm bắt nhị nguyên của những nhiễm ô và những đối trị.
Nếu người nắm bắt và cái được nắm bắt không được giải thoát ngay tại chính chỗ của chúng vào điểm quyết định,
Thì dù người ta có nói về một quan điểm cao, đó cũng chỉ là những lời bí mật của ma, và
Dù người ta có sự tham thiền tốt đẹp, kết quả cũng chỉ là hạnh phúc của những cõi cao hơn.
Bất cứ nỗ lực nào được làm cũng chỉ là những nguyên nhân của sanh tử.
Cái thấy rộng rãi, thiền định vô trụ, không mục đích,
Thái độ hành xử được tinh thuần, và tự do với sự nắm bắt có chủ tâm là quan trọng.
Khi trong bất kỳ ai, giữa những hiện hữu hiện tượng vô trụ không mục đích,
Sự bất nhị bao la của giải thoát-ngay khi-sanh khởi hiện tiền không dao động,
Đó là dấu hiệu của một thiền giả (yogi) đã vượt qua đại dương sanh tử.
(Bấy giờ) không có sự trói buộc chặt chẽ bởi đối tượng được nắm bắt và sự bám chấp vào chủ thể nắm bắt,
Tất cả mọi hiện hữu ở trong cõi giới phúc lạc của Pháp thân đồng thời toàn thiện.
Không có sợ hãi khi vượt qua những đèo núi, thung lũng và hẻm núi chật hẹp (gặp trên con đường thực hành).
Nó là sự về đến nơi quê nhà sinh quán của mình, siêu vượt mọi hy vọng và sợ hãi.
Bằng cách thấu đạt kinh nghiệm theo lối ấy, (những dấu hiệu của) bốn yếu tố như là
Những cấp đôï chứng đắc con đường không nắm bắt sẽ khởi lên.
[a.] Nghiệp lành được tích tập trước kia, lòng tốt của Lama.
Thời gian và thiện xảo trong phương tiện : khi những duyên này hội đủ với nhau,
Bấy giờ “Tánh Giác Bổn Nhiên tự hữu” vô ngại, tự do,
đơn giản,
Nó là cái không nắm bắt – ngay khi – khởi sanh, được trực tiếp chứng ngộ,
Đó là cái thị kiến vĩ đại của “Chứng Ngộ Trực Tiếp Pháp Tánh”
[b.] Do xác tín rằng mọi sự được gán tên bên ngoài và bên trong là Pháp thân,
Bất cứ cái gì sanh khởi, sẽ không có gì để lấy-bỏ, sửa sang hay chuyển hóa
Mọi sự sẽ khởi sanh độc chỉ như là sự thực tập của chứng ngộ.
Bấy giờ, khi những kinh nghiệm này được tăng trưởng,
Người ta sẽ có thể chuyển những hoàn cảnh bất lợi của xác nhận và phủ nhận những hiện hữu bên ngoài và bên trong vào con đường.
Do sự khởi lên (của chứng ngộ) giải thoát sẽ đạt được, và bằng cách an trụ (trong nó), lạc sẽ tựu thành.
Do có được kinh nghiệm, các loại “nhãn”, trí, thần thông và v.v….
Những đức hạnh khác nhau của Tánh Giác Bổn Nhiên khởi lên.
Bấy giờ, điều đó được biết như là “Thị Kiến của Khai Triển Kinh Nghiệm”
[c.] Do mở rộng thêm kinh nghiệm,
Tánh Giác Bổn Nhiên (trở thành) sự sáng tỏ, tánh Không và Trí Huệ Bổn Nguyên trần truồng,
Trong đó không có hôn trầm và trạo cử, không có dao động và không dao động,
Không có khác nhau giữa thiền định và xuất thiền định, mà nó luôn luôn (không ngừng) như một dòng sông.
Khi một cấp độ những đức hạnh phi thường như vậy đã thành tựu,
Đó là sự đạt đến “Thị Kiến về sự Toàn Thiện của Tánh Giác Bổn Nhiên”
[d.] Khi người ta không hề dời khỏi trạng thái này,
Người ta thoát khỏi những ý niệm hóa nắm bắt những đặc tính, và siêu vượt khỏi những đối tượng tham luyến, những cái để đoạn trừ và những đối trị với chúng,
Mọi sự đồng thời toàn thiện và thoát khỏi những nắm hiểu có chủ định và
Sự bám luyến những hiện hữu bên ngoài và bên trong cạn kiệt
Bấy giờ đó là sự chứng ngộ “Thị Kiến về sự Tan Biến vào trong Pháp Tánh”.
Rồi, bằng cách đem Tánh Giác Bổn Nhiên đến chỗ hoàn thiện trong bốn thị kiến,(23)
Những Sắc thân tan biến vào Pháp thân,
Và người ta đạt giải thoát bằng cách siêu vượt những hình tướng trống không và những nắm bắt –
Đó là sự đạt được thường hằng trong trạng thái bổn nguyên.
Khi người ta thực hành theo cách này, bởi vì người ta không lạc khỏi con đường (chánh),
Cũng có (những dấu hiệu của) ba cấp độ những giấc mộng :
Thứ nhất, do tu hành sự giải thoát của những hình tướng xuất hiện (vào trong) tâm ngay lúc sự sanh khởi của chúng,
Khi những giấc mộng xấu chuyển hóa thành những giấc mộng tốt,
Đó là dấu hiệu của một vị của công đức của người ta(24) do sự tịnh hóa nghiệp xấu.
Giống như khói đến từ lửa và ngũ cốc đến từ hạt giống.
Thứ hai, do có được kinh nghiệm, sự nhận biết những
giấc mộng
Và giải thoát tức thời của những giấc mộng xảy ra một cách đồng thời.
Đó là dấu hiệu của giải thoát thậm chí của bản thân cái đối trị (nhận biết) vào trạng thái tự nhiên của nó.
Thứ ba, qua quán chiếu trọn vẹn, kinh nghiệm toàn bộ sẽ đạt được,
Những giấc mộng ngừng dứt, và người ta cả ngày và đêm ở trong tịnh quang.
Đó là một dấu hiệu đã làm tan biến những tư tưởng thế gian vào trong bản tánh của chúng.
Bấy giờ người ta gần với sự đạt đến niết bàn tối hậu, và đồng thời
Sự đạt đến thường hằng trong trạng thái bổn nguyên của tịch diệt.
Đã giải thoát ba cõi và ba cửa(25) trong trạng thái của Ba Thân,
Người ta đạt đến niết bàn, nó không ở trong những cực đoan của trạng thái bình an.
Trong Tâm, không có những kiến lập và từ bỏ từ vô thủy,
Không cần có những đối trị sửa sang và chuyển hóa (bởi vì) nó ở trong bản tánh vốn có bẩm sinh.
Nó tự do với mọi nắm bắt phân biệt, thế nên
Nó là sự thành tựu tự nhiên mà không có thiền định cũng không có cái gì để thiền định.
Như thế trong Tâm Bình Thường Tự-Giải Thoát
Không có trong và ngoài, và vượt khỏi những cực biên của người nắm bắt và cái được nắm bắt.
Xác nhận và phủ nhận đều tự-giải thoát, và những nhiễm ô và những đối trị sanh khởi như là bản tánh vốn có bẩm sinh.
Giải thoát đạt được mà không có mục tiêu đối tượng nào (như là) “cái này”, “cái kia”.
Không cần gì chấp nhận hay từ bỏ. Trí Huệ Bổn nguyên toàn khắp là
Thoát khỏi những phân biệt, là đại lạc, không phải tìm kiếm và vốn tự thành tựu.
Nó là “đại giải thoát toàn diện”, tự do từ vô thủy và tự nhiên,
(Trong nó) không có cái gì được nhận biết như là “ai” (chủ thể), “cái này” (hành động), hay “chúng nó” (những đối tượng).
Nó là vô trụ, không mục đích, thoát khỏi nắm bắt và siêu vượt những cực đoan có-không.
Kye Ho ! do sự giải thoát toàn bộ của nó từ vô thủy,
Tánh Giác không-nỗ-lực giải thoát trong trạng thái
bình đẳng
Sự thống trị vốn tự thành tựu của nó thì không sanh không diệt.
Thế nên nó không trụ, không thể tri giác và bản chất của nó là không thể giải thích.
Mọi sự đều ở trong trạng thái vô tác và là thật tánh.
Ah Ho ! Trong tri giác vốn tự nhiên và thanh tịnh từ
vô thủy,
Khởi hiện Tánh Giác Bổn Nhiên kỳ diệu khiến người ta phải cười.
Không có nhị nguyên của tâm và đối tượng của nó, và người tri giác vốn không có tự tánh.
Nó không thể được chỉ định bằng cách nói “nó là cái này” – nó là tự do trong cái không mục đích vĩ đại.
Nó là trạng thái đơn nhất của phương tiện và trí huệ đồng thời toàn thiện.
Mọi sự thì không biến đổi và an trụ bình đẳng như chúng vốn là.
Trong nó không quan niệm ra những khác biệt của những hành tinh, ngôi sao, ngày tháng của lịch ;
Nó siêu việt thời gian và sự tính đếm của thời gian.
Bốn châu lục không hiện hữu, Núi Tu Di và mặt trời mặt trăng là trống không ;
Không có mạn đà la để quan niệm ra, và không có trì tụng hay thực hành những khổ hạnh.
Không có những đối tượng được quan niệm ra ; chúng là trống không (thanh tịnh) trong hình thức những kinh mạch, tinh chất và luân xa.
Dù những đối tượng bên ngoài tự chúng xuất hiện, chúng không bị ý niệm hóa.
Thế nên toàn cõi thế gian, năm đối tượng,(26) là trống không trong tinh túy.
Mọi sự là không sanh khởi, (vì chúng là) lâu đài tôn nghiêm tự-sanh khởi.
Không có ai sáng tạo, (vì chúng là) hóa thần của ý nghĩa tuyệt đối.
Sự phóng chiếu và thu hồi của những tư tưởng là trò chơi vĩ đại của Trí Huệ Bổn Nguyên.
Những đối tượng là những mây cúng dường ; bằng cách cúng dường chúng cho những hóa thần-Trí Huệ Bổn Nguyên
Những tích tập vĩ đại được hoàn thiện ; những âm thanh và lời nói là Đại Thần Chú.
Những nhiễm ô sanh khởi tự nhiên như trí huệ bổn nguyên ; đây là Giai Đoạn Thành Tựu tự-sanh.
Không cần những hành động và nỗ lực, vì nó tự nhiên vốn thành tựu.
Nó là trạng thái vượt qua (ba la mật), sự toàn thiện của những giai đoạn và những con đường.
Nó không trụ như là khoảng giữa, vì nó là sự hợp nhất thuần túy.
Không có lấy một vi trần của nhiễm ô, đối trị hay lỗi lầm che ám.
Thế nên, “thiền định của bất kỳ cái gì sanh khởi” được tự nhiên thành tựu không cần sức.
Những hiện tượng đồng và dị và nhân quả của thiện hạnh trắng và ác hạnh đen tác động như duyên khởi :
Chúng vô tự tánh nhưng chúng không ngừng xuất hiện như những phản chiếu.
Thế nên người ta cần biết sự tự giải thoát toàn thể siêu việt.
Do nghiệp tốt và xấu mà những thế giới cao và thấp được kiến lập.
Nếu nghiệp được siêu thoát, niết bàn tự nhiên sẽ được đạt đến.
Nếu người ta thực hành chấp nhận và chối bỏ, người ta chắc chắn sẽ thoát khỏi sự bất thiện.
Nhưng dù nếu người ta thực hành thiện hạnh, người ta cần không bị ràng buộc bởi tham luyến (thiện hạnh).
Về sau người ta cần tìm kiếm ý nghĩa của tự do khỏi chấp nhận và chối bỏ.
Người ta cần lấy những bậc thánh làm gương mẫu và cần thực hành.
Hãy từ bỏ những hoạt động vô nghĩa và mê lầm trẻ con.
Hãy luôn luôn sống cùng người hiền thánh.
Hãy theo những thực hành sơ bộ (sNgon-Gro) không lầm lạc của chứng ngộ, nghe và suy nghĩ.
Hãy kiên định chịu đựng (những hoàn cảnh khắc nghiệt) một mình trong chốn núi non hẻo lánh,
Với quyết tâm có được chân tánh.
Hãy làm giảm những lăng xăng trù tính bằng cách suy nghĩ về vô thường và ghê sợ.
Thực hành Pháp với những nỗ lực từ lòng mình là cốt yếu.
Nếu trong đời này người ta không thể tiến hành con đường giải thoát,
Thì sau này sẽ khó tìm được đời người tự do(27) và thuận lợi(28) và Chánh Pháp.
Hãy kéo lên ngọn cờ chiến thắng của sự thực hành trong một chốn cô đơn,
Và kiểm điểm lại điều gì mình đã thành tựu nếu mình chết lúc này.
Nếu người ta dùng ngày và đêm để ở trong Pháp theo cách như vậy,
Thì dù người ta mất đi thân thể như huyễn này, Tâm không có sanh không có chết.
Người ta sẽ bảo đảm cho sự trị vì của Pháp thân bất biến.
Cuộc đời này sẽ đầy ý nghĩa và sự thành đạt tối thượng sẽ hoàn thành.
Dù người có trí trung bình và kém
Sẽ đạt giải thoát trong trung ấm hay sẽ thành tựu quả trong đời kế tiếp.
Họ sẽ tìm thấy con đường giải thoát khỏi nhân quả của sanh tử.
Và đạt được thành trì của Tâm trong xứ sở của Đại Lạc.
Đây là trái tim của nghĩa tuyệt đối.
Nếu đi một con đường lầm lạc, có nhiều che ám của sai trệch ;
(Nên) người ta sẽ không bao giờ thành tựu bản tánh Như.
Họ mệt mỏi trong đời này và không kết quả trong đời tới.
Bởi thế người ta cần tìm kiếm cái thấy và thiền định không sai lầm.
Nếu sự tu hành của người ta không có những tư tưởng từ, bi và Bồ đề tâm,
Thì chắc chắn đó là một con đường khác với Đại thừa.
Nếu thực hành đến một mức mà tâm người ta trở nên
khô cứng,
Thì chắc rằng sự thực hành Pháp và hành giả cả hai đã đi trên những đường lối tách biệt.
Nếu người ta bị bám luyến vào những thiền định bên ngoài, bên trong và chặng giữa,
Thì chắc rằng người ta không có cơ hội chứng ngộ tánh bất nhị.
Nếu người ta không nhớ sự khẩn thiết phải thoát khỏi và sự ghê sợ sanh tử,
Chắc chắn người ta bị mê lầm bởi ma của sự bám luyến cuộc đời này.
Nếu người ta không có đạt được nào mới dù người ta thiền định,
Thì chắc rằng đã có những sai trệch và che ám, như hôn trầm và trạo cử.
Nếu “tính ướt” của an định không thấm nhuần quán chiếu,
Đó không phải là thiền định quán chiếu mà chỉ là một hình dung của chứng ngộ.
Nếu người ta nói về bất nhị từ một cái hiểu trí thức,
Mà không thể giáp mặt với những hoàn cảnh không thuận lợi, bấy giờ cái bất nhị trí thức ấy chỉ là một chỗ dựa cho năm độc sanh trưởng.
Nếu sức mạnh của thiền định quán chiếu không nâng đỡ cho thiền định an định,
Đó không phải là thiền định an định mà chỉ là sự trụ trong vô minh,
Và dù đạt được vững chắc, nó là nguyên nhân của những cõi cao.
Đối với định nằm trong hôn trầm, trạo cử và giải đãi, thiền định của loài thú,
Chớ bao giờ bị hấp dẫn. Sức mạnh của Trí Huệ Bổn Nguyên của quán chiếu,
Một khi được chứng ngộ không dấu vết dơ nhiễm qua lời thuyết pháp của những bậc thánh,
Chuyển mọi loại thiền định thành những hỗ trợ cho Giác Ngộ.
Lạc, sáng tỏ và vô niệm đều không do tạo tác sẽ khởi hiện bên trong.
Nếu khác đi, thì không phải là tinh túy tuyệt đối.
Nếu người ta không hiểu bí mật của Tánh Giác Bổn Nhiên bây giờ,
Rồi người ta sẽ bám luyến vào thiền định, và sẽ bị trói buộc bởi chuỗi xích chấp nhận và chối bỏ.
Ít sự việc thuận lợi sẽ xảy đến, và những cái không thuận lợi sẽ đến nhiều như mưa.
Những ước mong của người ta sẽ không thành và người ta sẽ luôn luôn bị sợ hãi quấy rầy.
Dù cho lạc, sáng tỏ và vô niệm có được phát minh bởi thân, ngữ và tâm
Cũng như một cái bình trong tay một đứa con nít, không có lợi lạc vì chúng sẽ bị vỡ.
Nguồn không do tạo dựng, bất hoại của những chứng đắc,
Sự chứng ngộ cái tinh túy tự nhiên, tìm kiếm nó là quan trọng.
Dù có điều thân, im lời, làm linh hoạt tâm, ngăn ngừa những tư tưởng,
Và đâm xuyên với ngọn giáo của tỉnh giác trong sáng và sống động,
Thì ngăn ngừa những ý niệm và cảm giác trong trạng thái nắm bắt
Người ta chỉ thành tựu những cõi Sắc và Vô Sắc của sanh tử.
Đối tượng bề ngoài của những giác quan, những tri giác không ý niệm và trong sáng ;
Trạng thái của Trí Huệ Bổn Nguyên vĩ đại, tự-giải thoát của năm độc,
Và Trí Huệ Bổn Nhiên vi tế thanh tịnh không hôn trầm trạo cử
Được (một số người) xem như những đối tượng để đoạn trừ, gọi là (những đoạn trừ) “rất thô, thô và vi tế”
Những con lừa ấy cố gắng tìm những cách để chối bỏ chúng.
Người ta gom tụ những tư tưởng đã qua bằng những tư tưởng kế tiếp, và
Chỉ bằng cách kinh nghiệm điều đó, nói rằng họ thấy nghĩa vốn sẵn xưa nay
(Như thế) người ta tính đếm những sanh khởi và dừng diệt (của những tư tưởng) và tiếp tục những tư tưởng,
Và chấp nhận chúng như nghĩa của bất nhị : sự thiền định này là mê lầm.
Dù cố gắng thiền định bao nhiêu, nếu từ mạng lưới tư tưởng,
(Trạng thái định ở) sau khởi lên trên sự dừng dứt của những tư tưởng trước,
Dù người ta xem (sự dừng dứt này) là giải thoát, nó chỉ là những tư tưởng nối tiếp nhau, chẳng phải là giải thoát.
Trong con đường của phương tiện thiện xảo,(29) buông thả cho lạc của những giác quan,
Là sự tham luyến nhục dục ; thế nên trong hầu hết trường hợp, đó là nguyên nhân của tái sanh vào cõi thấp.
Dù nếu người ta đạt đến những cõi hạnh phúc, rồi họ cũng sẽ tái sanh trong các cõi thấp.
“Phương tiện thiện xảo” là con đường của chỉ rất ít yogi.
(Trong con đường này) có những nguy hiểm lớn lao của những che ám trệch lối, và rất khó khăn để thấy nghĩa của chứng ngộ.
Chuyển tiếp lần lượt (mà không hợp nhất) hai sự tích tập các giai đoạn phát triển và thành tựu, với (những quán tưởng) và không có (những quán tưởng)
Được một số người tuyên bố là thật nghĩa, và họ bám dính vào đó ; nhưng sẽ có ít lợi lạc.
Chỉ có đạt được những cõi cao ; không thể chấm dứt sanh tử.
Tóm tắt, trước kia người đã tích tập ít phước tài tốt đẹp,
Và đi vào những con đường thấp, lạc hướng và sai trệch, họ đáng thương biết bao nhiêu.
Nguyện vào một lúc nào tất cả chúng sanh tìm thấy những con đường tuyệt hảo, không lầm lạc
Và theo đó đạt đến giải thoát !
Bất kỳ ai có tánh Không và đại bi không lầm lạc
Và pháp giải thoát tức thời, họ đang ở trên con đường đến Pháp thân tự-trụ.
Sự hiển lộ của nó là trí huệ – quán chiếu trần trụi, và
Vì nó là nơi an trú, nó là phương tiện của trạng thái bình đẳng an định.
Nó là tự nhiên, hợp nhất và thoát khỏi mọi tạo tác và biến chất.
Sự thay đổi tạo ra dao động và sự vững chắc vượt thắng chúng (tạo tác và biến chất).
Trong trạng thái không có hôn trầm, trạo cử, thoát khỏi gốc của những nhiễm ô,
Bất cứ cái gì khởi sanh chính là Pháp thân tự-giải thoát.
Tuy nó tự biểu lộ chính nó, nó hằng ở trong trạng thái bất nhị bình đẳng.
Không cần lấy bỏ, nó là nghĩa của chân tâm.
Trong tánh vốn sẵn đủ, Trí Huệ Bổn Nguyên của Pháp tánh,
Xin hãy tu hành không gián đoạn.
Đây là sự tự-giải thoát của bản tánh tuyệt đối vốn sẵn.
Nó là sự thiền định tối thượng sâu mầu và tuyệt hảo,
Tinh túy của trái tim, được cô đọng lập đi lập lại.
Nó là tinh túy của tất cả đỉnh cao, chân lý kim cương
tối thượng.

KẾT QUẢ ĐẠI THÀNH TỰU TỰ NHIÊN
chương ba của
TÂM GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN, ĐẠI TOÀN THIỆN

Kết quả thành tựu tự nhiên có hai phương diện : lập tức (hay tạm thời) và tối hậu.
Với cái lập tức, bằng cách thiền định về cái thấy, người ta sẽ hoàn thành những đức hạnh.
Những nhiễm ô và tâm nhị nguyên sẽ được giải thoát trong trạng thái tự nhiên của chúng.
Sự ổn định, vững chắc trong tương quan với những hiện tượng bên trong và bên ngoài sẽ hoàn thành.
Người ta sẽ hoàn thành những “nhãn”, trí và thần thông.
Chứng ngộ sẽ khai triển, lòng bi vì những người khác sẽ khởi sanh.
Vào lúc đó, trong Trí Huệ Bổn Nguyên tức thời của Tánh Giác Bổn Nhiên,
Nếu xếp thành những khía cạnh khác nhau, những đức hạnh sau đây hiện diện :
Những hình tướng xuất hiện như phương tiện thiện xảo, và giai đoạn phát triển là sự tích tập công đức.
(Qua đó người ta đạt) sự từ bỏ những ý niệm phiền não và những tư tưởng được nắm bắt.
Tánh Không (như là) trí huệ, và giai đoạn thành tựu (là) sự Tích Tập Trí Huệ Bổn Nguyên.
(Qua đó người ta đạt) giải thoát khỏi những nhiễm ô trí thức bẩm sinh và những tư tưởng nắm bắt.
Keo kiệt, không đạo đức, giận dữ, giải đãi, phóng dật,
Kém trí, không phương tiện, yếu đuối, không hứng khởi và vô minh ;
Những trạng thái thanh tịnh của mười khía cạnh này là
Sự thành tựu bố thí, giới luật, nhẫn nhục, tinh tấn, tham thiền, trí huệ, phương tiện thiện xảo,
Thần lực, nguyện vọng, và trí huệ bổn nguyên, Mười Hoàn Thiện.
Khi chứng ngộ khởi sanh do lòng tốt của Lama,
Sự khai triển của niềm tin tối thượng là “Hoan hỷ địa”.
Sự tự giải thoát của những nhiễm ô là “Thanh Tịnh địa”
Trí Huệ Bổn Nguyên phúc lạc, trong sáng và vô niệm là “Phát Quang địa”
Tự-giải thoát của những tư tưởng phóng chiếu là “Diệm Huệ địa” (địa Sáng Rỡ)
Mục tiêu không gì ngoài những bậc Thế Tôn là “Nan Thắng địa” (địa Vô Địch)
Hiện thực hóa sự chứng ngộ là “Hiện Tiền địa” (địa Hiện Thực).
Giải thoát khỏi sanh tử là “Viễn Hành địa” (địa Đi Chơi Rong Ở Xa).
Sự chứng ngộ không còn biến động như núi Tu Di là “Bất Động địa”.
Tối thượng của tất cả là “Thiện Huệ địa”.
Tràn ngập khắp bầu trời của Tâm, Địa Thứ Mười là “Pháp Vân địa”.
Sự hoàn thiện của tích tập công đức và Trí Huệ Bổn Nguyên là (những con đường) “tích tập” và “áp dụng” (tư lương vị và gia hạnh vị),
Thấy và kinh nghiệm nghĩa của chứng ngộ là (những con đường) “thấy” và “thiền định” (Kiến đạo vị và Tu tập vị),
Sự giải thoát được gọi là giai đoạn của “Kết Quả”
(Cứu cánh vị).
Tự do với ba độc (trong tánh giác bổn nhiên) là (nghĩa) của Ba Tạng.
(Cũng thế), sự tịnh hóa (tánh giác bổn nhiên) của ba cửa là sự hoàn thiện của Ba Học (Giới, Định, Huệ).
Giải thoát khỏi mọi sự (trong tánh giác bổn nhiên) là Kriya Yoga, và đó (cũng) là Carya Yoga.
Đạt đến quán chiếu chứng ngộ là Yoga Tantra và Anuttara Yoga.
Thế nên bốn tantra này được thành tựu trong (tánh giác bổn nhiên).
Lợi lạc cho chính mình (trong tánh giác bổn nhiên) là những thừa của Thanh Văn và Bích Chi Phật,
Lợi lạc cho những người khác là Đại thừa, và chứng ngộ là Kriya Tantra,
Kinh nghiệm (của thiền định) là Upatantra, và thọ hưởng nó là Yoga Tantra,
Và phương tiện thiện xảo và trí huệ là Maha Yoga và Anu Yoga ;
Tất cả chín thừa tương đương với tự-toàn thiện của Ati Yoga (Đại Toàn Thiện) :
Sự nhớ (niệm) và tham thiền với tinh túy của Trí Huệ Bổn Nguyên
Hiện diện (trong tánh giác bổn nhiên) như là những phần của “tự-giải thoát tức thời”
Có nghĩa là những giai đoạn, những con đường và Giác ngộ là đồng nhất (trong tánh giác bổn nhiên).
Trí Huệ Bổn Nguyên vốn sẵn đủ, tâm giác ngộ, Đại Ấn (Mahamudra),
Đều hoàn thiện (trong tánh giác bổn nhiên) như sự thành tựu vĩ đại tự nhiên.
[a. Pháp thân] : Trong quả tối hậu, trạng thái bổn nguyên không trụ trong những cực đoan,
Là cảnh giới Phật của Pháp thân, không thể quan niệm và không thể diễn tả.
Khi Pháp giới và Trí Huệ Bổn Nguyên đã trở nên không thể tách lìa,
Giác Ngộ Viên Mãn đạt được và Ba Thân tự nhiên thành tựu.
Trong Trí Huệ Bổn Nguyên Vi Tế ở trong cõi giới như bầu trời
Bản tánh toàn giác ở (trong trạng thái) hiện khởi.
Nó không có những thành tựu và những từ bỏ, thế nên nó là Pháp tánh thành tựu tự nhiên,
Không sanh, không diệt, bản tánh như hư không.
[b. Báo thân] : Từ trạng thái ấy xuất hiện (1) Cõi Phật thanh tịnh và trang nghiêm đẹp đẽ,
Mạn đà la tự-xuất hiện sáng rỡ và thành tựu tự nhiên,
(Cùng với) (2) những Đạo Sư của Năm Bộ(30) với đầy đủ tướng trọn hảo, ánh sáng chiếu soi,
Mỗi vị thọ hưởng bản tánh của Cõi Tối Hậu, Đại Viên Cảnh Trí, Bình Đẳng Tánh Trí, Diệu Quan Sát Trí
Và Thành Sở Tác Trí, Năm Trí Huệ Bổn Nguyên.
(3) Với quyến thuộc đệ tử tự tri giác của mười phương và bốn thời,(31)
Những mạn đà la của những Đạo Sư Năm Bộ, nhiều như một chậu chứa đầy hột mè,
Những vị khắp không gian mười phương.
Những cửa lớn, khung cửa, cửa gió và hàng rào (của những lâu đài)
Đẹp đẽ rực rỡ phù hợp với mỗi bộ
Mọi sự đều thành tựu tự nhiên trong bản tánh của một mạn đà la duy nhất.
(4) Khắp nơi, không biên giới hay trung tâm đều thấm nhuần những giáo lý toàn thiện bình đẳng.
(5) Ba thời và thời gian không-thời-gian là thời gian của Phổ Hiền.
Nó là trạng thái vốn thành tựu xưa nay và bất biến.
[c. Hóa thân] : Từ trạng thái ấy (biểu lộ) (1) Năm loại Tịnh Độ của chư Phật Hóa Thân Tự Nhiên :
Ogmin, Ngon-ga, Rinchen Yongkang,
Pematseg và Lerabtrub,
Trong đó những Đạo Sư của Năm Bộ trong tất cả ba thời,
Phô bày Sắc Tướng Như Gương Tuyệt Hảo cho những Đệ tử trong Mười Địa.
Do những tia sáng của các Ngài, những đệ tử được tịnh hóa những che ám cho đến Địa Thứ mười,
Và có thể đạt được Địa Thứ Mười Một “Sáng Chói Hoàn Toàn”.
Những Tịnh Độ này xuất hiện cho những Đứa Con Thanh Tịnh của bậc Chiến Thắng.
Từ những tia sáng phát từ những miệng của những sắc tướng Báo thân
Trong sáu cõi thiên, bán-thiên, người, thú, quỷ đói và địa ngục
Biểu lộ những sắc tướng của (sáu vị Phật ???? Gyachin, Thegzang, Sakyamuni,
Seng-ge Rabten, Khabar Deva, và
Awa Lang-go.
Các Ngài hoạt động cho lợi lạc của những chúng sanh bất tịnh, và y cứ nơi cảnh giới tối hậu bình an.
Những Hóa thân Khác Nhau như những hình thức nghệ thuật, sự sanh ra (như những chúng sanh),
Những ao, cầu, hoa sen, cây như-ý,
Dược liệu, ngọc và đèn
Cung cấp nguồn hạnh phúc và hoan hỷ cho chúng sanh và
Đem đến cái tốt tối hậu (giác ngộ) như kết quả rốt ráo.
Sau khi giải thoát hết những đệ tử, những Đạo Sư sẽ tan biến vào Pháp giới.
Điều này được hiểu theo ba phương diện :
(a.) Sự tan biến của những “Hóa thân Khác Nhau” và những “Hóa thân Chinh Phục Chúng Sanh”
Như khi không có đồ chứa nước (đệ tử), sự phản chiếu tan biến.
Sự phóng chiếu và thu hồi của trò chơi của cái Tự Nhiên (Hóa thân) chỉ là trò chơi.
(b.) Khi những người trong địa vị đệ tử đã đạt an lạc,
Đạo Sư, năm loại “Hóa thân Tự Nhiên”
Tự động tan vào Báo thân tự-biểu lộ vốn không phân cách,
Như sự tan biến của mặt trăng non vào không gian.
(c.) “Báo thân tự-biểu lộ” tan vào cõi giới Pháp thân.
Bấy giờ nó không xuất hiện bên ngoài, mà trong bản tánh nền tảng của nó, đó là mạn đà la vĩ đại.
Nó không trụ trước hay sau, tăng hay giảm, hay biến đổi ;
Như dù có khuyết có đầy bề ngoài, mặt trăng vẫn là một.
Và nếu có một đệ tử, các thân sẽ xuất hiện lại như trước.
Đây là những kết quả của Giải Thoát Viên Mãn.

[ LỜI KẾT ]

Như thế lời dạy này, tinh túy của mặt trời,
Được soi sáng bởi sự mọc lên của Ánh Sáng Rực Rỡ Không Nhiễm(32)
Ngày nay trong thời đại chiến đấu (khi người ta) bị bao bọc trong bóng tối của những tà kiến,
Để xua tan (những thứ ấy), con đường tuyệt đối này được viết ra.
Do công đức tạo luận, nguyện tất cả chúng sanh, giống như bản thân tôi,
Đồng đạt Giải Thoát trong trạng thái bổn nguyên, không còn sót lại.
Nguyện cho họ hoàn thiện trọn vẹn những phẩm tính của từ bỏ và chứng ngộ,
Và trở thành những Vị Nắm Vương Quyền Của Pháp, hoàn thành tự nhiên lợi lạc cho chúng sanh.

Lời dạy Dzogpa Chenpo (Đại Toàn Thiện) này về Tâm Giải Thoát Tự Nhiên được Yogi Trimed Dzer (Longchen Rabjam, 1308-1363) viết ra, người đã được Acarya Padmasambhava vinh quang vĩ đại của Orgyen ban phước vì lợi lạc của những thế hệ tương lai ở nơi linh thánh siêu tuyệt, Thành Trì Orgyen, và hoàn thành trên đỉnh Kangri Thodkar. Nguyện đưa đến đức hạnh !

CHÚ THÍCH PHẦN VII

  1. Kuntu Zangpo, S. Samantabhadra. Danh hiệu của Phật Bổn Nguyên : sự hợp nhất của cõi giới tối hậu và trí huệ bổn nguyên của chân lý tối hậu.
    2. Ngo-Bo, S. bhava. Bản tánh, tính chất và bản tánh của những hiện hữu. Trong bản văn chúng tôi phần nhiều dịch nó thành “tinh túy”.
    3. gDangs : Vầng sáng bên trong hay tự nhiên, sự sáng tỏ tối hậu hay vi tế, bản tánh sáng ngời ; năng lực, sự sâu thẳm tối hậu bên trong hay vi tế.
    4. Rang-bzhin, S. svabhava. Nghĩa là tính cách của những hiện hữu. Trong bản văn phần nhiều được dịch là bản tánh.
    5. gZung Drin : sự bám nắm và người bám nắm, cái được nắm bắt và người nắm bắt, tri giác hay sự nắm hiểu thuộc về chủ thể và đối tượng.
    6. Sems-Nyid, S. cittata. Nó là bản tánh tuyệt đối của tâm ; tâm tánh ; tâm-như-vậy ; thật tánh của tâm ; tánh giác bổn nhiên ; tinh túy của tâm. Trong bản văn, được dịch đơn giản là “Tâm”.
    7. sNang-Sems : những hình tướng xuất hiện và tâm, “cái được tri giác và tâm”, những hình tướng đối tượng và tri giác của chủ thể. Trong bản văn này, hầu hết được dịch là “tri giác”.
    8. Là, không là, cả hai và không phải cả hai.
    9. dBings (Ch’os Byings), S. dharmadhatu ; cõi giới, cảnh giới tối hậu.
    10. sNang (-Ba), S. avabhasa. Những hình tướng ; cái được tri giác ; những hiện tượng bề ngoài hay như huyễn, chân lý tương đối.
    11. sTong (-Nyid) S. sunyata. Tánh Không ; bản tánh chân thật ; sự rỗng rang ; chân lý tuyệt đối.
    12. Ch’os-Nyid, S. dharmata. Bản tánh tuyệt đối của những hiện hữu, Pháp tánh ; tánh Như.
    13. Bag-Ch’ags, S. vasana. Những dấu vết hay thói quen (tập khí) do những hành động và kinh nghiệm quá khứ tạo ra.
    14. Gyu-’Bras (Kyi) Theg-pa : những Thừa Nhân và Quả. Thừa Nhân là con đường chung của tu hành Phật giáo, Tiểu thừa và Đại thừa. Thừa Quả là con đường của tu hành tantra hay kim cương thừa, trong đó gồm cả ati yoga, hay Dzogpa Chenpo (Đại Toàn Thiện).
    15. De-Nyid, S. tathata ; cái như thế, như thị ; bản tánh chân thật.
    16. Yul-Drug : Sáu đối tượng của giác quan : sắc, thanh, hương, vị, xúc và những biến cố của tâm thức.
    17. sZhungs-sKu, S. rupakaya. Sắc thân của Phật, nó là Báo thân và Hóa thân.
    18. Chân lý Tuyệt đối và Chân lý Tương đối.
    19. dMigs-Med, S. nivaralamba : tính không tuân thủ, không có mục đích.
    20. Kun-gZhi, S. alaya, Hán Việt : a lại da thức.
    21. A’od-gSal, S. abhasvara, prabhasvara : sự sáng tỏ, tịnh quang, định quang minh.
    22. sKu-gNyis : hai Thân của Phật, thân tuyệt đối không có hình sắc (dharmakaya) và sắc thân (rupakaya).
    23. bZhi : trong bản văn đọc là gZhi (căn bản), nhưng theo Khyentse Rinpoche nó phải đọc là bZhi, tức là Bốn Thị Kiến của Đại Toàn Thiện.
    24. Nghĩa là chỉ có một vị của công đức trong tính cách của con người.
    25. sGo-gSum : thân, ngữ, tâm.
    26. Yul-lNga : sắc, thanh, hương, vị và xúc.
    27. Dal (-Ba) : Đời người tự do có tám phương diện : tự do thoát khỏi sự tái sanh trong những cõi địa ngục, quỷ đói, súc sanh, chư thiên sống lâu, người hoang dã, người tà kiến, trong một thế giới nơi không có Phật đã từng xuất hiện, và làm một người ngu đần.
    28. ’Byor (-Ba) : Một đời người thuận lợi có mười sự phú bẩm : sanh làm người, có đủ mọi khả năng (đủ mọi bộ phận giác quan), sanh trong một xứ sở trung tâm có liên hệ với Pháp, không trở lại một cuộc sống tà mạng, có niềm tin vào Phật pháp, có Phật đã từng xuất hiện và thuyết Pháp, Phật pháp được gìn giữ, người ta đã đi vào Phật pháp và người ta đã được chấp nhận bởi một vị thầy thiêng liêng.
    29. Thabs-Lam, S. upayamarga : sự tu hành mật truyền gồm những thân kim cương của chính mình và của những người khác.
    30. Rigs-lNga’i sTon-Pa : S. Aksohya (A Súc), Amogasiddhi (Bất Không Thành Tựu), Ratnasambhava (Bảo Sanh), Amitabha (A Di Đà), và Vairocana (Tỳ Lô Giá Na).
    31. Dus-bZhi : quá khứ, hiện tại, tương lai và thời gian-không-thời-gian.
    32. Dri-Med A’od-Zer : một trong những tên của Kunkhyen Longchen Rabjam.